Tin Hot

Bộ trưởng Bộ Tài chính: Áp lực trả nợ năm 2015-2016 lớn, nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn

Tuy nhiên trong phương án tính nợ công được Bộ Tài chính xây dựng từ nay đến 2020 thì mức nợ công cao nhất cũng chỉ 64,9% GDP, vẫn ở mức an toàn.

Phát biểu tại Quốc hội chiều nay (30/10/2014), Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về vấn đề nợ công, các nguyên nhân tồn tại và hạn chế, các giải pháp cũng như phương án tính nợ công từ nay đến 2020. Theo Bộ trưởng, đỉnh của nợ công theo tính toán của Bộ Tài chính rơi vào năm 2016 cũng chỉ ở mức 64,9% GDP, vẫn thấp hơn mức trần cho phép.

Theo phương án tính nợ công từ nay đến 2020 của Bộ Tài chính được Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng báo cáo tóm tắt trước quốc hội.

Về nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, địa phương rất lớn,các khoảnvay của Chính phủ để đảm bảo cân đối ngân sách dự kiến trong thời gian tới, ngân sách tiếp tục bội chi dự kiến năm 2015 là 5% GDP và sau đó giảm dần xuống còn 4% GDP vào năm 2020.

Chính phủ sẽ phát hành trái phiếu cho đầu tư phát triển bình quân 50.000 tỷ đồng/năm giai đoạn 2017 – 2020, còn giai đoạn 2015 – 2016 theo kế hoạch được Quốc hội thông qua còn145.000 tỷ đồng nên năm 2015 sẽ phát hành 85.000 tỷ trái phiếu để đảo nợ một phần gốc đến hạn thanh toán, 2016 sẽ phát hành 60.000 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng, dự báo thời gian tới cân đối ngân sách để chi trả nợ còn khó khăn do nghĩa vụ chi trả nợ tăng nhanh nên tiếp tục phải phát hành trái phiếu để đảo nợ một phần gốc đến hạn thanh toán để giãn tiến độ sang các năm sau.

Cũng theo Bộ trưởng, vay nước ngoài của Chính phủ chủ yếu là vay ODA, vay ưu đãi về cho DN vay lại trên cơ sở hiệp định đã ký từ các nhà tài trợ vàdự kiến mức giải ngân vay vốn của Chính phủ 5-6 tỷ USD/năm trong đó vay về cho vay lại 1,5 – 2 tỷ /năm.

Thứ ba, Chính phủ bảo lãnh cho các DN vay vốn cho các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực dầu khí, điện lực, hàng không,…với giá trị bảo lãnh bình quân 3-4 tỷ USD/năm.

Thứ tư, Chính phủ tiếp tục cấp bảo lãnh vay phát hành trái phiếu trong nước cho các định chế tài chính chính sách như NHCSXH, VDB để thực hiện chương trình dự án tín dụng đầu tư, tín dụng chính sách với mức tăng dư nợ bình quân 10%/năm, với nhu cầu vay được Chính phủ bảo lãnh 60.000-70.000 tỷ/năm.

Thứ năm,vay của chính quyền địa phương dự kiến 30.000-45.000 tỷ /năm.

Với các dự báo trên, Bộ trưởng đưa ra các chỉ tiêu cân đối vĩ mô giả định vớiGDP giả định năm 2015 tăng trưởng 5,2%; 2016 là 6,5%, 2017 là 6,7%, 2018 là 6,8%, 2019 là 6,9% và 2020 là 6,8%;Lạm phát 2015 là 5% và suốt đến 2020 sẽ điều hành trong 5-6%; thì bội chi ngân sách nhà nước 2015 là 5% sau đó lùi dần đến 2020 là 4%. Do đó chỉ tiêu nợ công theo Bộ Tài chính tính toán sẽ là năm2015 là 64%, 2016 là 64,9%, 2017 là 64% và giảm dần đến 2020 là 60,2%, các mức giả định này đều nằm trong ngưỡng an toàn.


Các chỉ tiêu giả định được Bộ Tài chính xây dựng để tính nợ công

Áp lực trả nợ 2015-2016 lớn

Trước đó, Bộ trưởng đã chỉ ra các nguyên nhân tồn tại và hạn chế khiến nợ công tăng nhanh.

Theo đó, áplực tăng vay nợ cho đầu tư phát triển dẫn đến tăng nhanh nợ công trong điều kiện cân đối NSNN giai đoạn 2011 – 2015 khó khăn đã khiến Chính phủ phải duy trì bội chi ở mức cao, tăng phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển. Đồng thời do cân đối khó khăn, Chính phủ phải bố trí chi trả nợ thấp hơn nhu cầu phát hành, phải đảo nợ để kéo dài được thời hạn nợ, hiện lãi suất đã hạ so vời các kỳ hạn trước.

Đồng thời Chính phủ phải tăng mức bảo lãnh Chính phủ cho 2 ngân hàng chính sách, phát hành trái phiếu thực hiện một số chương trình tín dụng chính sách, tăng mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài thực hiện dự án trọng điểm quốc gia đặc biệt dự án ngành điện hạt nhân và hàng không.

Thứ hai, do thị trường vốn chưa phát triển, việc phát hành trái phiếu Chính phủ mới chỉ đáp ứng được 50-70% yêu cầu nhiệm vụ huy động vốn hàng năm. Năm 2011 huy động được 49,5%, 2012 là 69,5%, 2013 là 59,3% 2014 khoảng 65%, nên phải tăng vay từ các nguồn vốn ngắn hạn khác với chi phí huy động cao.

Cơ cấu phát hành TPCP hàng năm kỳ hạn ngắn từ 1-3 năm ở mức cao, năm 2011 là 62,7%, 2012 là 75,8%, 2013 chiếm 77,5% và năm 2014 54,4% làm tăng áp lực trả nợ trong ngắn hạn đồng thời nhiều khoản vay ngoài nước phải trả nợ trong năm 2015-2016 (do đó áp lực trả nợ giai đoạn 2015-2016 sẽ lớn).

Thứ ba là trong khâu huy động mới dựa trên đề xuất yêu cầu của bộ ngành địa phương chưa đặt trong mối quan hệ chặt chẽ và cân đối với các nguồn đầu tư khác, chưa bám sát vào hạn mức nợ được các cấp có thẩm quyền quyết định, xác định mức độ mức vay chưa phù hợp với khả năng trả nợ, chưa gắn trách nhiệm người quyết định, người sử dụng hiệu quả vốn vay.

Thứ tư là một số chủ dự án chưa thực hiện tốt khâu thẩm định, chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án đầu tư dẫn đến vướng mắc trong khi thực hiện làm giảm hiệu quả đầu tư, nhiều dự án điều chỉnh tăng quy mô dẫn đến tăng vay nợ taọ áp lực gia tăng nợ công.

Thứ năm là công tác tổ chức và quản lý nợ công còn phân tán ở nhiều đầu mối bộ ngành địa phương, năng lực giám sát còn hạn chế, hệ thống số liệu chưa chuẩn hóa, chưa thực hiện tốt các quy định và phối hợp chặt chẽ trong tổng hợp, báo cáo công khai nợ công theo quy định. Luật quản lý nợ công sau 5 năm thực hiện bộc lộ tồn tại, cần rà soát đánh giá toàn diện sửa đổi cho phù hợp.

Bộ trưởng đã đưa ra một số giải pháp để quản lý nợ công như sau:

Thứ nhất, trình quốc hội thông qua dự án Luật Ngân sách nhà nước, quản lý nợ công sửa đổi để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nợ công tạo động lực phát triển.

Thứ hai, tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn thúc đẩy sản xuất kinh doanh, quyết liệt chống thất thu, gian lận thương mại, chuyển giá giảm nợ đọng thuế thúc đẩy cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính nhất là trong lĩnh vực thuế hải quan thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách bền vững.

Thứ ba, triệt để tiết kiệm chi ngân sách, tăng cường thực hành tiết kiệm chống lãng phí tham nhũng trong cả chi thường xuyên đầu tư phát triển, rà soát khoản chi ngân sách đảm bảo đúng dự toán, từng bước tinh giảm biên chế tiết kiệm khoản chi cho bộ máy quản lý, sự nghiệp công, chi mua sắm phương tiện trang thiết bị đắt tiền,. giảm tối đa kinh phí tổ chi tổ chức hội nghị hội thảo, công tác nước ngoài.. để dành tiền cho đầu tư, trả nợ và cải thiện đời sống cán bộ công chức.

Thứ tư, rà soát tổng thể các chương trình mục tiêu quốc gia, an sinh xã hội, đã triển khai 2011 – 2015 để lồng ghép, cắt giảm chính sách, xây dựng lộ trình quy mô phù hợp để thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2020, chỉ ban hành chính sách tăng chi ngân sách khi thực sự cần thiết và đảm bảo nguồn kinh phí từ ngân sách.

Thứ năm, đối với chi đầu tư phát triển phân bổ tập trung sử dụng có hiệu quả, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, thúc đẩy mạnh mẽ, kêu gọi hợp tác công tư, các hình thức đầu tư không sử dụng vốn nhà nước để tăng nguồn lực đầu tư toàn xã hội.

Thứ sáu, tiếp tục các giải pháp phát triển thị trường tài chính, thị trường trái phiếu trong nước và từng bước cơ cấu lại các khoản nợ công, tăng nhanh các khoản vay trung dài hạn hạn chế huy động ngắn hạn lãi suất cao, ưu tiên chi trả nợ, nâng cao hiệu quả sử dụng khoản vay của chính phủ, rà soát các khoản vay không hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ khoản bảo lãnh của chính phủ, các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng cơ bản của các bộ, chính quyền địa phương, nâng cao hiệu quả các khoản vay về cho vay lại để giảm thiểu phát sinh nghĩa vụ nợ dự phòng của chính phủ, tăng cường công tác quản lý và giám sát nợ.

Thứ bảy, xây dựng kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn giai đoạn 2016 – 2020 thực hiện tính đúng tính đủ mức bội chi và lộ trình giảm dần mức bội chi và giữ mức khống chế trần nợ công không quá 65%, nợ chính phủ không quá 55%, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Hoàng Ly

Bạn nên đọc

Ký gởi, cho thuê xe ôtô du lịch tự lái, cho công ty thuê xe tháng …

Công ty TNHH Siêu Thị Ô Tô Giám đốc Điều Hành: Pham.Giang Mobile : 0918-61-8839 …

%d bloggers like this: