Tin Hot

Nghịch lý khó tin trong tái cơ cấu ngân hàng tại Việt Nam

Sự nghịch lý ở đây là, trong khi đề án tái cơ cấu nền kinh tế đang hướng tới việc cổ phần hóa bớt các DNNN, giảm sự chi phối của nhà nước với các DNNN, thì đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng lại đang tiếp tục hướng đến việc tiếp tục duy trì cơ chế cũ.

Viet Nam, hoi nhap kinh te, thach thuc noi tai, tai cau truc nen kinh te, tai co cau, he thong tai chinh

Trong câu chuyện tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, thì vấn đề tái cơ cấu hệ thống tài chính mà chủ yếu trong đó là hệ thống ngân hàng được xem là điểm mấu chốt quan trọng nhất.

Hệ thống tài chính, mà ở đây là hệ thống ngân hàng Việt Nam, vẫn được xem là mạch máu của nền kinh tế. Một hệ thống ngân hàng được cấu trúc ra sao sẽ định hình nền kinh tế theo chiều hướng đó. Câu chuyện tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam vì thế có một phần lớn là tùy thuộc vào kết quả của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trên toàn quốc.

Nhưng đáng tiếc là, tính đến thời điểm hiện tại tức là bốn năm đã trôi qua kể từ thời điểm đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đưa ra năm 2011, thì hệ thống mạch máu của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn quá nhiều những cục máu đông đang gây tắc nghẽn cả hệ thống.

Cũng giống như nền kinh tế Việt Nam, hệ thống tài chính mà chủ yếu ở đây là hệ thống ngân hàng Việt Nam, cũng chịu tác động nặng nề trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ năm 2007 đến 2009. Cùng lúc hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu tác động kép: cuộc khủng hoảng tài chính trong nước năm 2007 và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008.

Cuộc khủng hoảng tài chính trong nước, khi bong bóng trên thị trường chứng khoán vỡ tung, lạm phát tăng vọt, trong khi một bộ phận lớn tiền tệ bị đóng băng trong hệ thống bất động sản. Đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới với việc đồng USD mất giá đã đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam vào tình trạng gần giống với hệ thống ngân hàng Mỹ trong thời điểm đó.

Đó là mất thanh khoản trầm trọng, vai trò cung ứng tài chính cho nền kinh tế bị đứt gãy nghiêm trọng, đe dọa có thể làm sụp đổ nền kinh tế quốc gia. Tình hình đó buộc Chính phủ phải đưa ra đề án tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, như một bộ phận quan trọng hàng đầu trong đề án tái cơ cấu nền kinh tế.

Nhưng cũng giống như tiến độ thực hiện của đề án tái cơ cấu nền kinh tế, đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng đang có tiến độ rất chậm chạp. Không những chậm chạp, mà bản thân đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng đang đặt ra những mục tiêu khá mơ hồ. Đề án tái cấu trúc chưa vạch rõ được những đặc điểm cơ bản mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng tới, mà có vẻ như đề án chỉ tập trung vào việc giải quyết những tồn đọng đang diễn ra trong hệ thống hiện nay.

Các ngân hàng yếu kém và mất khả năng thanh khoản đã được cho phép sáp nhập để nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, hoặc được Chính phủ mua lại với giá 0 đồng vốn gây tranh cãi trong một thời gian không hề ngắn. Với những gì đang làm, có vẻ như tên chính xác của đề án phải là vá lỗi hệ thống ngân hàng, chứ không phải là đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng như nó vẫn mang.

Tại sao lại như vậy? Là vì so với hệ thống ngân hàng trước đó, thì hệ thống ngân hàng được định hình trong đề án tái cơ cấu gần như không thay đổi, và vẫn mang những đặc điểm cố hữu trước đó. Điển hình là vai trò của hệ thống ngân hàng nhà nước sẽ vẫn mang tính chi phối nền kinh tế. Bất chấp một thực tế rằng thị phần vốn huy động cũng như cho vay của khối ngân hàng quốc doanh với nền kinh tế đang ngày càng suy giảm, thì mục tiêu đề ra trong đề án tái cơ cấu ngân hàng vẫn đưa ra định hướng rằng “nâng cao vai trò, vị trí chi phối của các ngân hàng thương mại nhà nước”.

Nếu như vào năm 2000, khối ngân hàng quốc doanh chiếm tới 78% thị phần vốn huy động và cho vay của nền kinh tế, thì đến năm 2005 con số này giảm xuống còn 74%, và đến năm 2010 thì chỉ còn khoảng từ 45 – 51%. Các biểu hiện của nền kinh tế những năm qua cho thấy vai trò ngày càng tăng của các ngân hàng dân doanh, với cách tổ chức và hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn, có tác dụng thúc đẩy kinh tế hơn, và lẽ ra cần nâng cao vai trò của hệ thống ngân hàng dân doanh hơn thì đề án vẫn cố gắng níu kéo và duy trì vị trí chi phối của khối ngân hàng quốc doanh như giai đoạn trước khủng hoảng.

Trong khi đó, các điểm yếu cốt tử của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước vẫn gần như chưa được cải thiện. Chẳng hạn như hệ thống tín dụng vẫn bị nghẽn trong hệ thống ngân hàng nhà nước. Nếu như ở các nước khác, hệ thống tín dụng của nền kinh tế bao gồm hai thành tố chính là hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, thì ở Việt Nam hệ thống tín dụng gần như gói gọn trong hệ thống ngân hàng.

Việc thị trường vốn, cụ thể là thị trường chứng khoán, ở Việt Nam kém phát triển dẫn đến việc các doanh nghiệp gần như buộc phải vay mượn từ hệ thống ngân hàng với lãi suất và những điều kiện kém ưu đãi, gây cản trở cho quá trình phát triển và kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó, việc sử dụng Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để giải quyết nợ xấu tỏ ra không hiệu quả. Các ngân hàng trên thực tế vẫn đang đẩy chi phí giải quyết nợ xấu này ra công chúng để công chúng gánh chịu.

Dễ dàng nhận ra, đề án tái cơ cấu ngân hàng hiện nay đang nhắm tới việc duy trì một cơ cấu nền kinh tế như trước khi xảy ra khủng hoảng, trong đó vẫn lấy các doanh nghiệp nhà nước làm bộ phận chủ đạo của nền kinh tế. Vì một thực tế rằng khối ngân hàng quốc doanh vẫn được định hướng là công cụ hỗ trợ để đưa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trở thành đầu tàu của nền kinh tế.

Trên thực tế, các ngân hàng vẫn cho các DNNN vay tới 30 – 35% tổng vốn cho vay của các ngân hàng này với lãi suất cực kỳ ưu đãi. Điều này sẽ tiếp tục dẫn đến tình trạng vốn phân bổ cho nền kinh tế bị lệch lạc và thiếu hiệu quả. Sự nghịch lý ở đây là, trong khi đề án tái cơ cấu nền kinh tế đang hướng tới việc cổ phần hóa bớt các DNNN, giảm sự chi phối của nhà nước với các DNNN, thì đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng lại đang tiếp tục hướng đến việc tiếp tục duy trì cơ chế cũ đang chịu sức ép thay đổi là việc đưa các DNNN trở thành mũi nhọn của nền kinh tế như trước.

Khi mà hệ thống ngân hàng vốn giữ vai trò mạch máu của nền kinh tế vẫn hướng tới mục đích đó, thì việc tái cơ cấu nền kinh tế với mục tiêu cổ phần hóa các DNNN gần như chỉ mang tính chất bề ngoài.
Việc tiếp tục duy trì một hệ thống ngân hàng giữ vai trò lệch lạc như vậy có thể khiến nền kinh tế hứng chịu những hệ lụy không nhỏ. Điển hình là việc thúc đẩy sự phát triển của giới doanh nghiệp tư nhân sẽ thiếu hiệu quả. Khi hệ thống ngân hàng vẫn được quy hoạch giữ vai trò bơm tiền cho các DNNN, thì các doanh nghiệp tư nhân sẽ tiếp tục khó tiếp cận với nguồn vốn vay như trước. Và nhất là nguồn vốn của nền kinh tế vốn ít ỏi sẽ lại tiếp tục bị phân bổ sai địa chỉ gây lãng phí và thất thoát rất lớn.

Một khi không thể đưa ra những mục tiêu mang tính đột phá của quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng, thì đề án tái cơ cấu nền kinh tế sẽ vẫn chỉ là trên giấy mà thôi. Một hệ thống ngân hàng y nguyên như trước khi khủng hoảng, sẽ vẫn chỉ tạo ra được một hệ thống kinh tế què quặt như trước thời điểm khủng hoảng mà thôi.

 (Theo Một thế giới)

Bạn nên đọc

Choáng ngợp cảnh ô tô tràn ngập đường phố ở TP Vinh, Nghệ An

Nghệ An với tốc độ nhanh và bền vững nên thu nhập của người dân …

%d bloggers like this: