Thác Bản Giốc được xác định đúng tinh thần Công ước Pháp – Thanh

“Thác Bản Giốc được xác định đúng tinh thần luật pháp, thông lệ quốc tế và Hiệp ước Pháp- Thanh. Không ai có quyền tự mình duyệt phương án đàm phán giải quyết khu vực này”- Đó là khẳng định của TS Trần Công Trục khi nói về vấn đề này.

Ky-vi-thieng-lieng-thac-ban-giocThác Bản Giốc điểm du lịch thú vị tương lai (Ảnh: Hồng Chuyên)
Trước những quan điểm lệch lạc về việc cắm mốc biên giới thác Bản Giốc, PV Infonet đã có cuộc phỏng vấn với TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, người đã tham gia đàm phán về biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề này.
Hoat-dong-cam-moc-bien-gioi

TS Trần Công Trục (người đứng gần cột mốc nhất) trong buổi lễ khánh thành cột mốc biên giới

Thưa ông, mới đây Bộ Thông tin và Truyền thông đã khánh thành Cụm thông tin đối ngoại tại thác Bản Giốc. Tại buổi làm việc với UBND tỉnh Cao Bằng, Thứ trưởng Bộ TT&TT Trần Đức Lai cũng bày tỏ mong muốn các ngành, các cấp cần nói rõ hơn về sự kiện cắm mốc biên giới tại khu vực thác Bản Giốc. Ông đánh giá gì về sự kiện này?

Tôi có theo dõi và được biết Bộ Thông tin và Truyền thông đã có đoàn công tác do Thứ trưởng Trần Đức Lai dẫn đầu lên khánh thành Cụm Thông tin đối ngoại thác Bản Giốc và cũng có buổi làm việc với UBND tỉnh Cao Bằng. Trong quá trình công tác làm việc, đoàn công tác cũng đã có tìm hiểu và trao đổi về thác Bản Giốc, trong đó có vấn đề sự kiện cắm mốc biên giới.

Việc Bộ Thông tin và Truyền thông khánh thành Cụm thông tin đối ngoại là một hoạt động rất được dư luận quan tâm và đánh giá cao. Bởi vì, Cụm thông tin đối ngoại tại khu vực thác Bản Giốc là một trong những dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo. Việc có những dự án như thế này là việc làm hết sức cần thiết nhằm khỏa lấp sự thiếu hụt về thông tin dẫn đến có những hiểu biết không chính xác về chính sách của Đảng và Nhà nước. Sự hiểu biết đầy đủ chính xác góp phần ổn định biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.Thieng-lieng-ban-gioc-noi-ve-vi-tri

Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Lãnh đạo Bộ đội Biên phòng trao đổi thông tin quanh thác Bản Giốc (Ảnh: Hồng Chuyên)

Được biết ông là Phó đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới trên bộ Việt Nam- Trung Quốc, ông có thể nói về quá trình đàm phán khu vực này được không?

Vâng, để giúp các bạn có thêm thông tin về vấn đề rất nhạy cảm và rất phức tạp này, tước hết, tôi xin cung cấp một số thông tin  có liên quan đến quá trình quản lý biên giới đất liền Việt- Trung :

1. Từ cuối thế kỷ XIX trở về trước: Biên giới truyền thống- Biên cương, cương vực-chưa có đường biên giới được hoạch định, phân giới cắm mốc chính thức.
– Việc thiết lập các quan ải và hệ thống đồn trại là biện pháp cơ bản trong việc tăng cường công tác bảo vệ quản lý cương vực.
– Chính quyền Trung ương trực tiếp chỉ đạo công tác quản lý biên cương.
– Lấy việc giữ đất, yên dân, ngăn chặn đẩy lùi bọn xâm lấn làm mục tiêu chính, tránh khiêu khích gây hấn với bên ngoài biên ải.
– Xây dựng lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ khu vực biên cương.

2. Từ thế kỷ thứ XIX :

–  Năm  1858 Pháp  xâm lược VN. Tháng 6 năm 1884, Hiệp ước Patennotre (Pháp bảo hộ cho An Nam), Pháp bảo hộ VN, đại diện VN trong quan hệ quốc tế, ký Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc kỳ và 3 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông (26-6-1887) và Công ước bổ sung Công ước 1887 ngày 20-6-1895, cắm được 314 mốc.
3. Từ sau năm 1950:
Từ những năm 50 trở lại đây, tuy quan hệ Việt – Trung có những thăng trầm, nhưng dưới sự lãnh đạo của 2 ĐCS, hai nước đã có những hợp tác để giải quyết vấn đề biên giới như: ngày 2-11-1957,  hai Đảng đã có thoả thuận vấn đề quốc giới là vấn đề quan trọng cần giải quyết theo nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do chính phủ 2 nước quyết định, nhất thiết cấm các nhà chức trách và đoàn thể địa phương thương lượng với nhau để cắm lại mốc giới và cắt nhượng đất cho nhau.
Năm 1973, các cuộc đàm phán về biên giới hai nước được tiến hành:
Cuối năm 1974 đàm phán lần 1 về Vịnh Bắc Bộ không đạt được kết quả gì. Từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978 đàm phán lần 2 không đi đến thoả thuận nào. Tình hình biên giới trên thực địa căng thẳng.
Đàm phán lần 3: vòng 1 tại Hà nội (18-4-1979 đến 18-5-1979); vòng 2 tại Bắc Kinh, từ 25 -6-1979 đến 6-3-1980 chủ yếu bàn các biện pháp bảo đảm hoà bình trên vùng biên giới.
Tư năm 1990, khôi phục quan hệ, từ 7-11-1991 đến 10-11-1991 ký hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới: quản lý biên giới theo tình hình thực tế; thẩm quyền giải quyết biên giới cấp chính phủ; giữ mốc biên giới.
Từ năm 1992, đàm phán lần thứ 4 diễn ra: ngày 19-10-1993 ký thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa 2 nước. Trong thỏa thuận này, hai bên đã nhất trí  mở ra 4 diễn đàn đàm phán về biên giới lãnh thổ (3 cấp chuyên viên và 1 cấp chính phủ) và đặc biệt đã thống nhất được căn cứ pháp lý để đàm phán là: “Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và TQ ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới 20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa VN và TQ…” 
Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu  không được xác nhận là một bộ phận  của Công ước nói trên, đều không có giá trị dùng làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm phán  lần này.
(TS Trần Công Trục nhấn mạnh)

Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu  không được xác nhận là một bộ phận của Công ước nói trên đều không có giá trị dùng làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm phán  lần này.

 

Thực hiện Thỏa thuận nói trên, từ tháng 2/1994 đến  tháng 12/1999, đã họp 6 vòng cấp chính phủ, 16 vòng nhóm công tác liên hợp, 3 vòng nhóm soạn thảo Hiệp ước.
Tại vòng 2 (7.1994) nhóm công tác đã trao bản đồ chủ trương, qua đối chiếu có 870km/1360km đường biên giới trùng nhau (67%), 436km/1360km, 289 khu vực không trùng nhau với tổng diện tích 236,1km2 trong đó có 74 khu vực loại A (1,87km2) kỹ thuật vẽ chồng lấn nhau, 51 khu vực loại B (3,062km2) không vẽ tới, 164 khu vực loại C do quan điểm 2 bên khác nhau, trong đó có một số khu vực tranh chấp trên thực địa.
Đàm phán cấp Chính phủ vòng 6 (25-28 tháng 9 năm 1998) thống nhất phân khu vực C thành 3 loại: khu vực Công ước đã quy định rõ ràng, khu vực một bên quản lý quá hoặc vạch quá đường biên giới, khu vực Công ước không quy định rõ ràng để xử lý theo nguyên tắc đã thỏa thuận, chẳng hạn:

– Nguyên tắc các bên trao đổi vô điều kiện cho nhau những vùng đất quản lý quá đường biên giới: “Sau khi 2 bên đối chiếu xác định lại đường biên giới, phàm những vùng do bất kỳ bên nào quản lý quá đường biên giới về nguyên tắc cần trả lại cho bên kia không điều kiện” (Phần II, điểm  3, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa, ngày 19 tháng 10 năm 1993).

– Nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối: “Đối với những đoạn biên giới đi theo sông, suối, hai bên đồng ý sẽ tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế, thông qua thương lượng hữu nghị để giải quyết” (Phần II, điểm 4, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Việt – Trung ngày 19 tháng 10 năm 1993).

Tại vòng V đàm phán cấp chính phủ, hai bên đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối giữa 2 nước: đối với những đoạn biên giới đã được Công ước 1887, 1895 xác định rõ ràng thì căn cứ vào các quy định của Công ước để xác định biên giới, cũng như sự quy thuộc các cồn bãi trên sông suối biên giới; đối với những đoạn biên giới theo sông suối chưa được Công ước xác định rõ ràng thì 2 bên sẽ áp dụng nguyên tắc phổ biến của Luật pháp và Tập quán quốc tế để xác định:

– Trên các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được, đường biên giới sẽ đi theo trung tâm luồng chính tàu thuyền chạy.

 – Trên các đoạn sông suối tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới sẽ đi theo tung tâm của dòng chảy hoặc dòng chính.
Sau 16 vòng đàm phán cấp chuyên viên, 6 vòng cấp chính phủ, hai bên đã giải quyết xong các khu vực khác nhau giữa 2 đường biên giới chủ trương của 2 nước. Từ tháng 2/1994 đến tháng 12/1999, đã họp 6 vòng cấp chính phủ, 16 vòng nhóm công tác liên hợp, 3 vòng nhóm soạn thảo Hiệp ước.
Kết quả đàm phán là phù hợp với các nguyên  tắc cơ bản đã thoả thuận, đã giải quyết được toàn bộ khu vực có nhận thức khác nhau, các khu vực nhạy cảm cũng đã được giải quyết thoả đáng trên cơ sở có tính đến sự quan tâm của cả hai bên đối với các yếu tố có liên quan. Hiệp ước đã khẳng định trên thực tế nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, là sự kiện trọng đại đối với nước ta cũng như quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và đối với khu vực.

Trở lại khu vực thác Bản Giốc: Đây là 1 trong 164 khu vực loại C, những  khu vực có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới mà hai bên phải cùng nhau giải quyết theo những nguyên tắc nói trên.

Khu vực thác Bản Giốc  là  1 tong 4 khu vực C cuối cùng còn lại cần được xử lý để hoàn thiện nội dung Hiệp ước hoạch định biên giới mới. Khu vực này được xác định là khu vực đường biên giới đi theo sông suối tàu thuyền không đi lại được mà Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 chưa quy định rõ ràng, nên sẽ áp dụng nguyên tắc đã được thỏa thuận tại vòng V đàm phán cấp chính phủ nói trên.

Tuy nhiên, cũng cần nói rõ khu vực đường biên giới đi theo sông suối mà hai bên có nhận thức khác nhau do Công ước 1887, 1895 không quy định rõ ràng ở đây cụ thể là như thế nào, ở ngay tại khu vực thác hay ở thượng nguồn thác?

Đối chiếu với nội dung của Công ước Pháp-Thanh 1887, 1895 và căn cứ vào nhận thức về hướng đi của đường biên giới mà hai bên đã thể hiện trên bản đồ “đường biên giới chủ trương” thì  nhận thức khác nhau không phải là ở ngay khu vực thác chính mà là ở khu vực thượng nguồn của thác. Bởi vì, theo Công ước Pháp – Thanh 1885, 1895, thì đường biên giới  được mô tả là đi giữa dòng sông Quây Sơn lên đến đỉnh thác (thác Bản Giốc là bộ phận của dòng sông Quây Sơn). Rồi  từ điểm giữa đỉnh thác, đường biên giới kéo thẳng về cột mốc số 53.

Căn cứ vào mô tả đó, hai bên đã thể hiện đường biên giới chủ trương trên bản đồ mà 2 bên lựa chọn. Sau khi trao đổi bản đồ “biên giới chủ tương”, 2 bên đã đối chiếu 2 đường chủ trương do 2 bên thể hiện, khu vực từ giữa đỉnh thác chính xuống sông Quây Sơn, đường biên giới hoàn toàn trùng nhau.

Như vậy khu vực từ đỉnh thác Bản Giốc trở xuống không có sự tranh chấp, không có sự nhận thức khác nhau. Chỉ có từ giữa  đỉnh thác chính nối đến  mốc 53 (mốc 53 nằm dưới chân một quả đồi, bên cạnh con đường mòn) là có nhận thức khác nhau, vì Công ước Pháp-Thanh 1887, 1895 không mô tả chi tiết về sự tồn tại của một doi đất, gọi là cồn Pò Thoong, được bao bọc bởi 2 dòng chảy đổ về thác chính. Chính vì vậy, tranh chấp khu vực thác Bản Giốc thực chất là tranh chấp ở phía thượng nguồn của thác, chứ không phải tranh chấp ở ngay đỉnh thác đổ xuống sông Quây Sơn.
(TS Trần Công Trục nhấn mạnh)
Như vậy khu vực từ đỉnh thác Bản Giốc trở xuống không có sự tranh chấp, không có sự nhận thức khác nhau. Chỉ có từ giữa đỉnh thác chính nối đến  mốc 53( mốc 53 nằm dưới chân một quả đồi, bên cạnh con đường mòn) là có nhận thức khác nhau, vì Công ước Pháp-Thanh 1887, 1895 không mô tả chi tiết về sự tồn tại của một doi đất, gọi là cồn Pò Thoong, được bao bọc bởi 2 dòng chảy đổ về thác chính. Chính vì vậy tranh chấp khu vực thác Bản Giốc thực chất là tranh chấp ở phía thượng nguồn của thác, chứ không phải tranh chấp ở ngay đỉnh thác đổ xuống sông Quây Sơn.
Trong thực tế quản lý, phía ta và Trung Quốc đã từng có những xung đột, tranh chấp ở khu vực thượng nguồn này. Vì vậy, khi đàm phán hai bên đã thảo luận rất kỹ, có lúc rất căng thẳng. Cho nên, đây là khu vực tồn tại đến cuối cùng mới giải quyết theo nguyên tắc đã nêu trên. Căn cứ vào nguyên tắc này, Ủy ban liên hiệp về phân giới cắm mốc đã xác định dòng chảy chính nằm ở phía Việt Nam.
Theo nguyên tắc đã thỏa thuận, đường biên giới nằm giữa dòng chảy chính đó, về mặt pháp lý, toàn bộ Cồn Pò Thoong thuộc về Trung Quốc. Nhưng đây là khu vực rất nhạy cảm và đã có hoạt động trong thực tế của ta và Trung Quốc, do đó 2 bên đã có tính  đến quan tâm và  lợi ích của nhau, tính đến một giải pháp tổng thể đảm bảo tính công bằng, hợp lý cho cả 2 bên. Cuối cùng, hai bên thống nhất xác định  đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong và dành cho Việt Nam ¼ và Trung Quốc ¾ Cồn Pò Thoong. Có nghĩa là đường đi qua vị trí trạm thủy lợi vì nó đảm bảo sự quan tâm của Việt Nam và cũng như thực tế quản lý ở đây.

Vậy khu vực này được đàm phán trong bao lâu, thưa ông?

Như tôi đã nói, đây là 1 trong 4 khu vực còn lại cuối cùng trước khi ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới  năm 1999. Có thể nói là đã kéo dài từ khi bắt đầu đàm phán năm 1993 cho đến khi kết thúc công tác phân giới cắm mốc ngày 31  tháng 12 năm 2008, cả thảy là 15 năm.

Điều này cũng cho thấy những người đàm phán đã rất thận trọng, nghiêm túc khi nghiên cứu đề xuất các phương án giải quyết khu vực nhạy cảm này. Phương án đàm phán trước khi báo lãnh đạo cao nhất của nhà nước thông qua thì nhất thiết phải có ý kiến đồng ý của các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là ý kiến nhất trí  của các cấp chính quyền sở  tại. Không ai có quyền tự mình duyệt phương án đàm phán giải quyết khu vực này.

TS Trần Công Trục cùng đoàn khảo sát phân định cắm mốc biên giới Việt- Trung

 

Theo ông, còn yếu tố nào có thể gây nhầm lẫn cho người dân nếu không hiểu đầy đủ?

Vấn đề khác, mặc dù đường biên giới đi qua sông suối, ở đoạn đã rõ thì theo Công ước, đoạn chưa rõ theo nguyên tắc đã thỏa thuận. Tuy nhiên có một điểm rất quan trọng mà chúng ta nên lưu ý là: Hai bên còn có thỏa thuận sẽ có hiệp định, nghị định thư về việc khai thác, sử dụng sông suối biên giới. Như chúng ta đã biết, mặc dù biên giới đã được xác định rất rõ theo các nguyên tắc pháp lý, nhưng nguồn nước là chung, cảnh quan là chung, đều có liên quan mật thiết với nhau không thể có bất kỳ công trình nhân tạo nào được dựng lên để ngăn cách chúng.

Thực tiễn quốc tế cũng thế, các nước đã ký hiệp ước về biên giới trên sông suối, nhưng cũng đều  ký thỏa thuận cùng hợp tác khai thác chung khu vực sông suối biên giới đó. Việc 2 bên đàm phán khai thác dòng nước sông Quây Sơn, khu vực thác Bản Giốc cũng là điều hết sức phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với lợi ích của đôi bên. Tất nhiên cũng phải tính đến các yếu tố kinh tế, kỹ thuật… để phân chia lợi ích một cách công bằng, tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi, không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn cả vấn đề quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia…

Bộ Thông tin Truyền thông đã sớm khánh thành Cụm thông tin truyền thông đối ngoại ở khu vực thác Bản Giốc vừa qua là một sự đóng góp rất có ý nghĩa của Việt Nam nhằm triển khai thỏa thuận có giá trị thực tiễn và rất có ý nghĩa pháp lý, ý nghĩa chính trị có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Đồng thời cũng là kênh thông tin để giải thích về nguyên tắc đường biên giới trên sông suối là đường biên giới mềm, 2 bên có thể qua lại sử dụng chung dòng nước đó.

Xin cảm ơn ông!

Hồng Chuyên (thực hiện) _ Infonet

Bạn nên đọc

Ký gởi, cho thuê xe ôtô du lịch tự lái, cho công ty thuê xe tháng …

Công ty TNHH Siêu Thị Ô Tô Giám đốc Điều Hành: Pham.Giang Mobile : 0918-61-8839 …

%d bloggers like this: