Tiết kiệm đúng chỗ, đầu tư đúng nơi

tiet-kiem-dung-cho-dau-tu-dung-noi

Có đến 86% người tiêu dùng ở Việt Nam đang hạn chế chi tiêu trong 12 tháng vừa qua.

Nielsen vừa đưa ra nghiên cứu cho thấy người Việt tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Sự thật ra sao?

Tính trung bình trong năm qua mỗi người Việt Nam kiếm được khoảng 1.740 USD. Với mức thu nhập này, người Việt sẽ chi bao nhiêu và phần còn lại dùng để làm gì, gửi ngân hàng hay đem đi đầu tư? Con số cụ thể sẽ tùy mỗi người, nhưng theo hãng nghiên cứu thị trường Nielsen, cứ 100 người Việt thì có đến 77 người sẽ gửi tiền nhàn rỗi vào tài khoản ngân hàng. Tỉ lệ này là cao nhất trên thế giới. Trái ngược với đức tính tiết kiệm, người Việt lại e ngại đầu tư, cũng theo Nielsen, khi kết quả khảo sát cho thấy mức độ sẵn sàng đầu tư của người Việt thấp hơn người dân ở các quốc gia xung quanh.

Dù vậy, trên thực tế, cuộc khảo sát của Nielsen chỉ thể hiện ở góc độ cá nhân. Nếu xét góc độ vĩ mô, tình hình đầu tư của Việt Nam trong nhiều năm gần đây lại cho thấy điều ngược lại khi tỉ lệ đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) luôn ở mức cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia.

Người việt tiết kiệm nhiều hơn đầu tư?

Ngược với khảo sát thị trường, khái niệm tiết kiệm ở đây bao hàm ý nghĩa rộng lớn hơn. Với cá nhân, việc mua cổ phiếu sẽ là một khoản đầu tư nhưng với nền kinh tế nói chung thì không. Cổ phiếu không được ghi nhận vào GDP và đầu tư chỉ được tính khi một doanh nghiệp có sản phẩm bán ra. Theo các nhà kinh tế học, tiền tiết kiệm của người dân sẽ được các trung gian tài chính (ngân hàng, thị trường chứng khoán) rải đi khắp các dự án và sẽ trở thành những khoản đầu tư.

Vậy đứng ở góc độ vĩ mô, Việt Nam có thực sự tiết kiệm hay không? Giai đoạn 2002 – 2012, tỉ lệ tiết kiệm trung bình của Việt Nam là 30%, cao hơn Thái Lan (29%) và thấp hơn Malaysia (35%), nhưng cao kỷ lục vẫn là Trung Quốc (48%). Mặc dù tỉ lệ tiết kiệm ở mức tương đối, nhưng điều đáng lưu ý là Việt Nam lại đầu tư nhiều hơn mức mình tiết kiệm được. “Vấn đề của Việt Nam không phải là tiết kiệm ít mà là vung tay quá trán”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, nhận xét.

Bằng chứng là sự thâm hụt thương mại trong nhiều năm liền trong giai đoạn trước đây, mà đỉnh điểm là năm 2008 với 11,5 tỉ USD nhập siêu, tương ứng trước đó 1 năm tỉ lệ đầu tư trên GDP cũng đạt mức cao kỷ lục 36%, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới. Trong khi đó, nếu so với nước láng giềng Trung Quốc, tỉ lệ đầu tư của Việt nam trong giai đoạn này cũng xấp xỉ, nhưng tỉ lệ tiết kiệm thì thấp hơn nhiều.

Sự khác biệt này nằm ở khu vực Nhà nước. “Tiết kiệm không đủ bù đắp đầu tư không phải là do tiết kiệm tư nhân thấp, mà là do đầu tư của Nhà nước quá cao”, ông Tuấn nói. Thậm chí tiết kiệm tư nhân trong giai đoạn này không chỉ bù đắp cho đầu tư tư nhân mà còn tài trợ một phần cho tiết kiệm âm của khu vực Nhà nước.

Nghịch lý của tiết kiệm

Tiết kiệm là hành động tự nhiên mỗi khi có khủng hoảng diễn ra. Và người Việt đang nỗ lực tiết kiệm nhiều hơn. Đứng ở góc độ cá nhân, cũng theo khảo sát của Nielsen, có đến 86% người tiêu dùng ở Việt Nam đang hạn chế chi tiêu trong 12 tháng vừa qua. Đứng ở góc độ vĩ mô, năm 2014, dòng tiền tiết kiệm vẫn đang đổ về hệ thống ngân hàng một cách mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng huy động cao hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng trong vòng 3 năm trở lại đây.

Tiết kiệm tăng cũng không hẳn là điều tốt, dù rằng tiết kiệm nhiều hơn thì khả năng đầu tư cũng cao hơn. Đó chính là nghịch lý của tiết kiệm.

Nghịch lý của tiết kiệm nói rằng trong bối cảnh sức cầu suy yếu, người dân tăng tiết kiệm để phòng lúc “trái gió trở trời”, khiến nhu cầu chi tiêu giảm, dẫn đến doanh nghiệp bị giảm doanh thu, người dân lại bị giảm thu nhập và mức tiết kiệm được cũng tiếp tục giảm (giả sử tỉ lệ tiết kiệm không đổi).

Sức cầu giảm cũng chính là lý do vì sao trong 2 năm gần đây Việt Nam không còn tình trạng vung tay quá trán như giai đoạn trước, thể hiện thông qua thương mại thặng dư thay vì thâm hụt. Năm 2014, Việt Nam đã xuất siêu 2,1 tỉ USD.

Rõ ràng, nghịch lý của tiết kiệm nói lên một điều rằng tăng tiết kiệm không phải là giải pháp trong khủng hoảng. Tỉ lệ tiết kiệm cao cho phép tỉ lệ đầu tư cũng ở mức cao, điển hình như Trung Quốc, nhưng một quốc gia có tỉ lệ tiết kiệm thấp cũng không hẳn là đầu tư thấp, mà ví dụ là Mỹ và Nhật. Dù có tỉ lệ tiết kiệm rất thấp, nhưng Mỹ lại là quốc gia nhận được dòng vốn ngoại nhiều nhất thế giới, hay như Nhật là quốc gia chuyên đi rót vốn tài trợ cho các quốc gia khác.

Trong khi đó, theo đánh giá của ông Tuấn, Fulbright, mức tiết kiệm hiện nay đã là phù hợp cho tăng trưởng dài hạn vì tỉ lệ này bằng mức thông thường của các nước đang phát triển. “Vấn đề chính ở đây là việc phân bổ lại nguồn lực đầu tư”, ông nói.

Hiện nay, trung gian phân bổ vốn trong nền kinh tế là các tổ chức tín dụng và thị trường chứng khoán, mà trong đó ngân hàng vẫn là trung gian lớn nhất. Dù vậy, thời gian gần đây, hệ thống ngân hàng lại chủ yếu rót vốn vào trái phiếu chính phủ. Tăng phát hành trái phiếu chính phủ đồng nghĩa với ngân sách chính phủ tăng lên và điểm đến cuối cùng của dòng tiền này có lẽ không nằm ngoài các công ty thuộc khu vực quốc doanh. Điều này đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng của nền kinh tế thêm một lần nữa lại đè nặng lên vai khối doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, muốn thoát khỏi nghịch lý tiết kiệm hiện nay, câu chuyện lại quay về xuất phát điểm cơ bản là tái cấu trúc như thế nào để khu vực này hoạt động hiệu quả hơn. Trong khi đó, một giải pháp khác là tập trung phân bổ vốn nhiều hơn vào khu vực tư nhân, vốn còn rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ và là một động lực lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bạn nên đọc

Đình bản, xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép cơ quan báo chí vi phạm

Bộ TT&TT vừa ra quyết định đình bản, xử phạt hành chính và thu hồi …

%d bloggers like this: