Tọa đàm trực tuyến về bảo hiểm y tế

Từ 9h30 sáng nay, 28/8, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Bảo hiểm y tế -bảo vệ sức khỏe toàn dân”.

Ảnh VGP/Quang Hiếu

Ngày 29/3/2013, Thủ  tướng Chính phủ đã có Quyết định số  583/QĐ-TTg, phê duyệt đề án thực hiện lộ  trình tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020. Mục tiêu của đề án là mở rộng phạm vi bao phủ của Bảo hiểm y tế tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững. Đây được xem là sự cam kết chính trị mạnh mẽ trong chính sách “bảo đảm an sinh xã hội” và là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, hôm nay, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Bảo hiểm y tế – bảo vệ sức khỏe toàn dân”.

Tham dự tọa đàm có các vị khách mời:

– Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên

– Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Phạm Lương Sơn

– Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương Lê Thanh Hải

BTV: Câu hỏi đầu tiên của chương trình xin được dành cho Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên: Đề án Bảo hiểm y tế toàn (BHYT) dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tuy nhiên việc “phủ sóng” BHYT cho hơn 30% dân số hiện chưa có thẻ BHYT là rất khó khăn vì phần lớn số đối tượng này thuộc diện thu nhập thấp, lại không thuộc sự quản lý của một tổ chức xã hội nào. Vậy Việt Nam sẽ thực hiện đúng lộ trình Bảo hiểm y tế toàn dân bằng cách nào, thưa bà?

 

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên – Ảnh VGP/Quang Hiếu

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Trước hết, xin khẳng định, BHYT là chính sách hết sức nhân đạo và có sự chia sẻ cộng đồng. Trước khi ban hành Luật BHYT, BHYT mới chỉ bao phủ 46% dân số. Tới cuối 2012, BHYT đã bao phủ 67%. Người dân tham gia BHYT tăng nhanh, đặc biệt quyền lợi của người tham gia được đảm bảo và mở rộng nhiều.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật BHYT, phải nói cũng có một số vấn đề chưa hợp lý, cần phải chỉnh sửa, đòi hỏi có các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong việc tiến tới lộ trình BHYT toàn dân cũng như thực hiện các giải pháp quyết liệt để tiến tới lộ trình này. Trong Đề án được Thủ tướng phê duyệt, đã đưa các giải pháp tương đối quyết liệt để tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân.

Trước hết, chúng ta phải làm thế nào nghiên cứu ban hành chủ trương chính sách BHYT cho phù hợp.

Thứ 2, nêu cao trách nhiệm các cấp ủy đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương và các tổ chức chính trị phải vào cuộc.

Thứ 3, chúng ta phải làm thế nào để tăng tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân và tập trung đưa các giải pháp vào các nhóm đối tượng, nhất là hiện nay có một số nhóm được Chính phủ hỗ trợ nguồn kinh phí như cận nghèo, học sinh sinh viên… Nhiều doanh nghiệp hiện cũng chưa quan tâm đảm bảo đóng BHYT cho người lao động. Làm thế nào đưa tỷ lệ đó tăng lên.

Về phía Bộ Y tế, chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương. Đặc biệt phải tuyên truyền để người dân hiểu tính ưu việt của BHYT, quyền lợi của người dân, để họ thấy quyền lợi, lợi ích để tham gia.

Hiện Chính phủ có Nghị định 85 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính với các đối với sự nghiệp y tế với nhiều đổi mới. Đối với BHYT cũng có đổi mới.

BTV: Trong năm nay Bộ Y tế sẽ tiến hành soạn thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm Y tế sau hơn 3 năm đưa vào thực hiện, xin Bà cho biết mục đích của việc sửa đổi lần này cũng như những điểm khác biệt cơ bản của Luật mới so với Luật hiện hành?

Bà Nguyễn Thị Xuyên:  Hiện Chính phủ đã giao Bộ Y tế thành lập ban soạn thảo xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT, chúng tôi đã phối hợp Bộ Tài chính, Bộ LĐTBXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam để nghiên cứu và trình các cấp có thẩm quyền.

Chúng ta phải khẳng định sau khi có Luật BHYT ra đời, tỷ lệ người dân tham gia BHYT tăng lên, quyền lợi người tham gia BHYT được nâng lên, chất lượng khám chữa bệnh đảm bảo, quỹ BHYT ổn định, phát triển. Các tổ chức quốc tế đánh giá trong thời gian ngắn như vậy thì VN đã thực hiện Luật BHYT rất tốt. Tuy nhiên để thực hiện lộ trình BHYT toàn dân nhanh hơn, sớm hơn thì Chính phủ đã giao Bộ Y tế làm đầu mối xây dựng luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT cho phù hợp với điều kiện hiện nay.

Quan điểm sửa luật là thể chế hóa quan điểm của Đảng về BHYT, bảo hiểm xã hội… với mục tiêu là phải đạt được trên 70% dân số tham gia BHYT vào năm 2015, và 2020 là trên 80% và chất lượng khám chữa bệnh của các BV phải được nâng lên, đổi mới cơ chế tài chính. Những nội dung chưa phù hợp thực tiễn sẽ được nghiên cứu, sửa dổi, những nội dung phù hợp cần tiếp tục phát huy . Những sửa đổi phải phù hợp với luật liên quan như Luật khám chữa bệnh, Luật Hiến ghép mô tạng…

Những nội dung sửa đổi cơ bản bao gồm: giải thích rõ Bảo hiểm y tế là như thế nào; thứ hai là chia nhóm đối tượng giảm từ 25 nhóm đối tượng trong luật cũ xuống còn 5 nhóm; trong luật cũng nêu rõ trách nhiệm UBND xã, phường là phải lập danh sách các hộ gia đình tham gia BHYT. Trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT quy định hình thức đóng BHYT theo cá nhân như hiện nay sẽ chuyển sang đóng theo hộ gia đình. Qua đó tránh cấp trùng lặp thẻ BHYT xảy ra như vừa qua. Dự thảo luật cũng sẽ  giao trách nhiệm cho UBND các cấp, nhất là cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý BHYT trên địa bàn rõ hơn. Về quyền lợi của người tham gia BHYT cũng sẽ tăng lên. Ví dụ, chúng tôi đang dự thảo quyền lợi của người dân trên thực tế như người nghèo, dân tộc thiểu số, vùng khó khăn là cùng chi trả 5% tuy nhiên có ý kiến cho rằng thực tế cần nghiên cứu những đối tượng này để không phải cùng chi trả mà BHYT sẽ chi trả 100%.

Còn về những nội dung như mức đóng của người dân vẫn duy trì như mức hiện tại. Còn về giá dịch vụ y tế thì một số tổ chức quốc tế khuyến cáo BHYT nên thống nhất giá trên toàn quốc nhưng VN cần nghiên cứu cho phù hợp. Về quỹ dự phòng thì có một số quy định ít nhất bằng mức thu 2 quý liền kề nhưng hiện tại vẫn chưa đủ, và tới đây ban soạn thảo sẽ thay đổi quỹ dự phòng sẽ bằng 1 quý liền kề vì đây là quỹ ngắn hạn. Về trách nhiệm quyền hạn các bên liên quan như Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội, cơ sở khám chữa bệnh, UBND các cấp cũng sẽ được quy định cụ thể, rõ ràng hơn.

Bác Hà Văn Nhơn địa chỉ hòm thư Nhơnhv@…com đặt vấn đề: Theo tôi, để đề án BHYT toàn dân được triển khai rộng rãi và hiệu quả thì cần có sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương, vậy xin cho biết giải pháp cụ thể để đưa BHYT vào nghị quyết của từng địa phương, coi tỷ lệ bao phủ BHYT như là một chỉ tiêu đánh gía v phát triển kinh tế – xã hội?

 

 

 

Ông Phạm Lương Sơn – Ảnh VGP/Quang Hiếu

Ông Phạm Lương Sơn: Như Thứ trưởng Bộ Y tế đã nói, để thực hiện được BHYT toàn dân đối với 30% dân số còn lại là một thách thức. Nhưng chúng ta đang có những điều kiện rất thuận lợi về hành lang pháp lý là Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị và Quyết định 238 của Thủ tướng Chính phủ. Về việc tổ chức thực hiện, BHYT VN đã chủ động xây dựng lộ trình cũng như đưa giải pháp cụ thể nhằm mục tiêu cũng như mong muốn của công dân như bác Hà Văn Nhơn vừa nêu ra là làm sao để bao phủ BHYT trở thành một trong những chỉ tiêu phát triển KT-XH.

 

Chúng tôi đã phân loại các nhóm địa phương theo tỉ lệ bao phủ để xác định địa phương nào chưa đạt tỉ lệ bao phủ theo Nghị quyết 21 đặt ra là đến 2015 là có tối thiểu 70% dân số có BHYT và đến năm 2020 phải có tối thiểu 80% cần phân loại theo từng địa phương để có giải pháp cụ thể.

 

Thứ 2 là chúng tôi  xác định phân tầm đối tượng tham gia BHYT và tập trung vào nhóm đối tượng yếu thế trong XH để đảm bảo an sinh XH. Qua đó xác định tỉ lệ để phát triển độ bao phủ cho mỗi địa phương phù hợp với khả năng và điều kiện KTXH và quan trọng là đảm bảo được tính khả thi.

 

Trên cơ sở đó BHYT ở các địa phương cần báo cáo thường xuyên với UBND các tỉnh, thành và đưa các chương trình này vào kế hoạch, từ đó, đưa ra giải pháp cụ thể để phát triển

 

Ví dụ, với BHYT học sinh đã đạt 80%, vậy 20% còn lại nằm ở tỉnh nào và tỉnh đó phải tiến tới đạt 100% BHYT học sinh vào năm 2015. Hiện nay khó khăn nhất là ở các hộ nông lâm ngư nghiệp. Ngoài việc kiến nghị với các bộ, ngành để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cho nhóm này tham gia BHYT thì cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan BHXH ở các tỉnh, thành phố làm sao để các cấp chính quyền quan tâm nhiều hơn nữa.

 

Chúng tôi tin rằng với quyết tâm cao và nỗ lực của cả hệ thống chính trị thì sẽ đạt được mục tiêu BHYT đến được 70% dân số vào năm 2015.

 

BTV: Xin cho biết về một vài số liệu cụ thể?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Theo thống kê, tỉnh có tỉ lệ bao phủ cao nhất là ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đa số là được ngân sách nhà nước bỏ tiền ra mua BHYT. Những tỉnh có tỉ lệ thấp nhất ở khu vực phía Bắc là Nam Định, Đồng bằng sông Hồng hay ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có rất nhiều hộ cận nghèo và hộ nông lâm ngư nghiệp. Chúng tôi cũng xác định ở các khu vực này cần được quan tâm nhiều hơn. Ngoài sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương thì cần có 5 giải pháp đồng bộ trong đó có tuyên truyền, tăng tính hấp dẫn, cải thiện nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để người dân cảm thấy BHYT là cái thiết thực trong cuộc sống.

BTV: Liệu có trường hợp lợi dụng tăng mức viện phí mà nhiều bệnh viện đã tự đưa vào sử dụng những dịch vụ bất hợp lý, gây ảnh hưởng đến quỹ BHYT và làm khổ bệnh nhân. Xin bà cho biết việc kiểm tra, thẩm định lại giá dịch vụ y tế sẽ được thực hiện như thế nào?

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Về vấn đề thẩm định giá dịch vụ y tế, Thông tư liên tịch số 04 về việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế quy định rất rõ. Đối với bệnh viện tuyến Trung ương, khi xây dựng giá dịch vụ, bệnh viện căn cứ vào danh mục kỹ thuật đã được Bộ Y tế phê duyệt. Sau khi xây dựng xong trình Bộ y tế thẩm định. Một số vụ, cục của Bộ Y tế, một số ban của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, một số vụ của Bộ Tài chính tham gia thẩm định. Những gì bất hợp lý thì Hội đồng thẩm định sẽ loại ra.

Đối với địa phương, Sở Y tế là đầu mối phối hợp với Sở Tài chính và Bảo hiểm xã hội của các tỉnh sẽ tổ chức thẩm định giá y tế của từng bệnh viện. Danh mục giá dịch vụ tại các bệnh viện đó cũng phải đáp ứng đủ yêu cầu và phải có cấp thẩm quyền phê duyệt. Sau đó, Sở Y tế trình UBND tỉnh, UBND đồng ý mới trình HĐND, tiếp theo Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.

Tại Bộ Y tế, Hội đồng thẩm định giao cho 1 vụ đầu mối là Vụ Tài chính trình lãnh đạo Bộ Y tế phê duyệt các danh mục. Phê duyệt dựa trên căn cứ và qua hội đồng thẩm định rất cẩn thận. Những gì không phù hợp, không hợp lý thì đều không được phê duyệt.

BTV: Xin hỏi ông Hải, với tư cách là người đứng đầu một bệnh viện lớn, có ý kiến cho rằng việc chống lạm dụng quỹ BHYT ngoài phụ thuộc vào các cơ quan quản lý quỹ, còn phụ thuộc nhiều vào cán bộ y tế và nhất là người đứng đầu bệnh viện, Ông đánh giá sao về nhận xét này?

 

 

 

Ông Lê Thanh Hải – Ảnh VGP/Quang Hiếu

Ông Lê Thanh Hải: Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến đó. Bởi vì Bệnh viện Nhi Trung ương là một trong những bệnh viện lớn và có trách nhiệm khám chữa bệnh cho trẻ em trên toàn quốc. Hiện, quy mô 1.200 giường với đội ngũ 1.700 cán bộ cán bộ công nhân viên trong hợp đồng…. Hàng năm có khoảng gần 1 triệu lượt trẻ em đến khám ngoại trú, khoảng 80.000 trẻ em chữa bệnh nội trú. Đặc biệt, khoảng 80% trong số đó là trẻ dưới 6 tuổi.

 

Việc vận dụng thế nào quỹ BHYT để thực hiện 1 chính sách phát triển bệnh viện cũng như ngành y nói chung theo đường lối của Đảng là phải công bằng- hiệu quả- phát triển, thì vai trò của cán bộ y tế là rất quan trọng đặc biệt là các bác sỹ, điều dưỡng- người trực tiếp điều trị và quan trọng hơn nữa là chính những người tham gia quản lý tại đơn vị đó.

 

Vì nếu cán bộ y tế, đặc biệt là bác sỹ, không được đào tạo tốt về chuyên môn, không nắm vững chế độ chính sách BHYT, cũng không đảm bảo về giáo dục y đức thì rất dễ lạm dụng trong công tác khám bệnh, chỉ định xét nghiệm, kê đơn.

 

Tuy nhiên, nếu chỉ ở tầm 1 bác sĩ, điều dưỡng làm không đúng chỉ ảnh hưởng số lượng ít người bệnh, nhưng ở tầm cao hơn, ở tầm quản lý, lãnh đạo, nếu không có các cách làm để quản lý các quỹ BHYT sẽ nguy cơ vỡ quỹ BH trong bệnh viện cũng như hệ thống.

Thời gian qua, Bệnh viện Nhi Trung ương phối hợp tốt với BHXH để làm việc này. Cụ thể, đầu tiên là xây dựng quy trình, chuyên môn kỹ thuật, hướng dẫn chẩn đoán, điều trị cho bệnh nhân. Với quan điểm bệnh ở mức độ nào thì chữa ở mức độ đó, để làm sao bệnh nhân dù nhẹ hay nặng cũng đảm bảo điều trị công bằng như nhau, không có việc lạm dụng đơn thuốc cũng như các chỉ định xét nghiệm, các dịch vụ chăm sóc khác…

 

Bên cạnh đó, còn 1 điều quan trọng, chính người làm quản lý, lãnh đạo phải có biện pháp thường xuyên giám sát, kiểm tra và chỉnh đốn. Có như vậy mới giữ được quy chuẩn về lề lối làm việc, chuyên môn cũng như quy trình, đặc biệt là giữ được quỹ BHYT.

 

BTV: Ông có thể nói rõ hơn về các tường hợp bác sỹ quá lạm dụng kỹ thuật cao khi không cần thiết?

 

Ông Lê Thanh Hải: Thực ra, vấn đề này vẫn đang tồn tại trong thực tiễn. Nhưng một số này muốn điều chỉnh được cũng phải quay lại vấn đề đào tạo con người, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng- những người trực tiếp phụ trách sức khỏe của người bệnh khi tới bệnh viện.

 

Thứ 2, thường xuyên giáo dục y đức.

 

Thứ 3, phải xây dựng các quy trình chẩn đoán điều trị bệnh nhân. Sau khi chẩn đoán thì phải áp dụng các biện pháp điều trị tương ứng, tránh lạm dụng các phương tiện chẩn đoán, thuốc men…

Bạn đọc Hoàng Thanh đặt câu hỏi: Tôi thấy hiện nay có một thực tế là các đối tượng tham gia BHYT chủ yếu là do Nhà nước hỗ trợ, hoặc chỉ khi ốm, mắc bệnh nặng mới có nhu cầu mua thẻ BHYT. Còn nếu chỉ khám chữa bệnh thông thường thì người bệnh sẵn sàng chi trả bằng tiền túi, điều này phản ánh thực trạng BHYT hiện vẫn chưa đủ sức thu hút người dân?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Tôi nghĩ rằng đây là hiện tượng mang tính cá biệt còn trong thực tế quan niệm của người dân, xã hội đã có thay đổi cơ bản về BHYT. Nếu những năm 1992-1998 khi nhận thức của người dân về BHYT còn hạn chế nhưng hiện nay, theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam số người khám BHYT tuyến hiện là hơn 90%, tuyến tỉnh là hơn 80% còn tuyến TƯ như Bệnh viện Nhi TƯ thì khoảng 70% còn nhưng bệnh nhân khám trái tuyến, vượt tuyến khi thanh toán thì đều sử dụng thẻ BHYT.

 

Như vậy thái độ của người dân, xã hội về BHYT là rất tích cực, tất nhiên có một số trường hợp người dân khi ốm đau mới mua BHYT mà chuyên môn gọi là “lựa chọn ngược”. Và trong sửa đổi Luật BHYT sắp tới chúng ta cần nghiên cứu để khắc phục điều này và đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT.

 

Ông Lê Thanh Hải: Về chuyên ngành Nhi khoa thì có thực tiễn là có 2 đối tượng trẻ khám bệnh là dưới 6 tuổi và trên 6 tuổi. Thông thường trẻ dưới 6 tuổi được Bảo hiểm xã hội chi trả, còn trên 6 tuổi là phải mua BHYT. Và nhiều trường hợp bệnh nặng, nhưng không có BHYT khi chúng tôi hỏi ra thì bố, mẹ cho biết chưa mua được cho trẻ vì chưa đến năm học. Tức là có thực tiễn là bán BHYT ở trường học, và đây là thực tiễn Bảo hiểm xã hội phải cần thay đổi để gia đình mua thẻ BHYT cho trẻ thuận liện hơn.

 

Thứ hai, một số trường hợp tuyến dưới chuyển lên nhiều là do người dân chưa tin lắm hệ thống KCB tuyến dưới, thậm chí không cần BHYT mà họ vẫn lên tuyến trên. Vì vậy chúng tôi suy nghĩ làm thế nào để củng cố hệ thống  y tế tuyến dưới để người dân có thể khám chữa bệnh ngay từ tuyến dưới, đảm bảo được quyền lợi của người có thẻ BHYT.

Độc giả Nguyễn Văn Công, địa chỉ hòm thư Cong123@…com hỏi: Theo tôi thấy, hiện nay việc quy định “trần” trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT tại nhiều nơi đôi khi còn thực hiện theo cơ chế “mềm”, tức là dù có vượt trần vẫn được xem xét và thanh toán, chính vì thế mà nhiều nơi lạm dụng thuốc, xét nghiệm tràn lan, gây ảnh hưởng ko nhỏ tới quỹ Bảo hiểm y tế và phiền nhiễu cho người bệnh? Điều này có đúng không thưa ông?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Trước hết, tôi khẳng định không có cơ chế mềm nào trong thanh toán vượt trần trong BHYT như thế cả. Có thể nói câu chuyện ngược lại là cơ quan BHXH không cứng nhắc trong thanh toán BHYT vượt sàn. Có thể trường hợp cụ thể 1 bệnh nhân nào đó vào bệnh viện có nhu cầu điều trị với chi phí hiệu quả nhất. Vì mục đích cứu sống người bệnh thì các bác sĩ cần phải lựa chọn các dịch vụ kỹ thuật, thuốc rất đắt tiền . Cách đây 1 tuần, ngay tại Hà Nội, 1 cháu bé 5 tuổi được cứu sống khi bác sĩ còn băn khoăn cháu bé đã sử dụng 5 loại kháng sinh đặc trị nhưng đều bị kháng thuốc do cháu bé nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc mà chỉ có thuốc đặc trị mới có thể cứu được cháu. Khi hỏi đến cơ quan BHXH  thì cơ quan này đặt câu hỏi ngược lại là thuốc này có nằm trong danh mục của Bộ Y tế hay không và câu trả lời là có và câu hỏi tiếp theo là tại sao không sử dụng cho cháu bé. Và bệnh viện đó đã sử dụng thuốc này cho cháu, thuốc này có giá 5 triệu đồng/ chai và cháu bé đã được chữa khỏi. Nếu chi phí vượt trần như do nguyên nhân khách quan bất khả kháng thì đương nhiên BHYT sẽ chi trả vì đây là chi phí hợp lý.

 

Tuy nhiên quy trình thanh toán tiền vượt trần đó được thực hiện rất chặt chẽ, phải có ý kiến của liên Bộ Y tế – Bộ Tài chính, phải báo cáo hội đồng quản lý BHYT VN, chỉ khi được hội đồng quản lý thông qua thì tiền vượt trần đó mới được chuyển cho bệnh viện. Thế nên tôi nghĩ rằng sẽ không có cơ chế mềm nhưng vẫn đảm bảo cơ chế đó chi đủ. Còn về việc một số BV có một số chỉ định chưa hợp lý, thì quai giám định kiểm tra, cơ quan BHYT sẽ từ chối thanh toán nếu đấy là chi phí không hợp lý. Một số trường hợp bị từ chối chúng tôi sẽ thông báo cho phía BV và có cuộc họp để 2 bên thông tin với nhau chỉ khi BV thấy cơ quan BHYT từ chối là hợp lý, chúng tôi mới đưa ra quyết định cuối cùng.

Bạn Thảo Trang tại địa chỉ hòm thư Trangtrang@…com hỏi: Mặc dù hàng năm Quỹ BHYT kết dư số tiền hàng chục nghìn tỷ đồng, nhưng trong Dự thảo Luật BHYT sửa đổi vẫn quy định mức đóng tối đa 6% mức tiền lương tháng hoặc mức lương tối thiểu. Vậy căn cứ vào đâu để Bộ Y tế xây dựng mức thu này?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Phải nói rằng quy định mức thu, Bộ Y tế, Tài chính, BHXHVN nghiên cứu rất kỹ trong việc quy định mức trần tối đa 6% so với mức lương cơ bản, trên tinh thần hiện chúng ta vẫn đang thực hiện mức đóng 4,5%. Trên thực tế và theo lộ trình về điều chỉnh giá dịch vụ y tế, tới đây, ngành y tế được phếp tính đúng tính đủ các chi phí trực tiếp.  Hiện nay chưa được tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp, mới tính 3 trên 6 yếu tố, nên giá dịch vụ hiện nay chưa phù hợp với thực tế (thấp hơn).

 

Tiến tới lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí, chúng ta phải có các quy định về mức tối đa 6%, mức này. Quốc hội đã thông qua, giao Chính phủ quy định phù hợp từng giai đoạn. Hiện nay, lương của cán bộ y tế lẽ ra theo lộ trình được nâng lên, lương của cán bộ công chức, viên chức nhà nước cũng như doanh nghiệp sẽ được nâng lên, nhưng trong điều kiện hiện nay, đất nước còn khó khăn, chúng ta chưa được nâng mức lương theo đúng lộ trình, thì mức đóng BHYT cũng chưa được nâng lên. Nhưng theo đúng lộ trình, mức đóng sẽ được từng bước nâng lên, nhưng khống chế tối đa không quá 6%.

 

BTV: Khi nộp BHYT với mức tối đa không quá 6%, giá có tăng theo không?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Hiện nay, giá dịch vụ y tế lẽ ra là phải tăng, nhưng trong tính toán và trong lộ trình giá dịch vụ y tế cũng chỉ được điều chỉnh, chưa được tính đúng, tính đủ.

BTV: Quỹ BHYT kết dư hàng năm tại nhiều tỉnh là rất lớn, lấy ví dụ như tỉnh Hà Giang năm 2011 là 65,7 tỷ đồng, năm 2012 là 92 tỷ đồng, nhưng hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể việc sử dụng số tiền trên nên vẫn chưa thể tái sử dụng vào việc mua sắm trang thiết bị, đầu tư bệnh viện để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vậy đâu là nguyên nhân của sự chậm trễ này?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Sau khi thực hiện Luật BHYT thì năm 2010-2011, quỹ BHYT không những bù đắp bội chi của năm 2009 mà hiện còn kết dư. Trong năm 2010-2011, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam họp để trình Chính phủ để xử lý phần quỹ kết dư này. Tuy nhiên thời điểm đó Chính phủ cho phép điều chỉnh giá dịch vụ y tế thì bên Bảo hiểm xã hội Việt Nam có tính toán thấy rằng nếu điều chỉnh như vậy thì năm 2013 sẽ bội chi khoảng 10.000 tỷ đồng, vì vậy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị Bộ Tài chính và Bộ Y tế trình Chính phủ đề nghị nâng mức đóng BHYT từ 4% lên 6%.

 

Nhưng trong tình hình kinh tế khó khăn như thời gian qua Chính phủ chưa đồng ý tăng mức đóng BHYT lên mức 6% do vậy nguồn kết dư phải bổ sung vào nguồn dự phòng của năm 2013 để tránh tình tạng vỡ quỹ.

 

Ông Phạm Lương Sơn: Đây là bài toán để chúng ta đảm bảo đủ nguồn lực tài chính trong năm 2013 và những năm tiếp theo. Và bội chi năm 2013 theo tính toán của chúng tôi là trên 10.000 tỷ đồng và khi chưa tăng được mức đóng BHYT thì phải sử dụng nguồn quỹ dự phòng. Trong dự thảo luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT thì chúng tôi cũng có quy định tỷ lệ bao nhiêu % quỹ dự phòng đưa vào quỹ địa phương, bao nhiêu đưa vào quỹ  Trung ương. Và nguồn quỹ kết dư hiện tại mới chỉ của hai năm 2010-2011 còn năm 2012 chúng ta vẫn đang chờ quyết toán, số kết dư sẽ được báo cáo sau.

BTV: 45% quỹ BHYT  là từ ngân sách Nhà nước, một tỷ trọng lớn theo lộ trình đã được Chính phủ phê duyệt từ 2012-2015. Có một vấn đề thấy rõ là chi phí thuốc trong khám chữa bệnh ở nước ta chiếm tới trên 60%, thậm chí ở một số nơi tới 70-80%. Vậy đâu sẽ là giải pháp để giảm tải được chi phí dành cho thuốc khám chữa bệnh, tránh được tình trạng vỡ quỹ BHYT do giá thuốc cao?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Hiện nay tính toán giá thuốc khoảng 60 – 70% ở một số BV. Tính toán như vậy là đúng, tuy nhiên hiện nay trong kết cấu về giá dịch vụ y tế chủ yếu là kết cấu về thuốc, hóa chất. Các yếu tố khác như tiền lương, khấu hao tài sản, khấu hao về thiết bị y tế, chi phí đào tạo đội ngũ cán bộ y tế hiện nay chưa được kết cấu vào đó. Nên nếu tính như vậy thì tỉ lệ tiền thuốc sẽ cao.

 

Nhưng nếu theo lộ trình Chính phủ cho phép thì chúng ta sẽ từng bước tính đúng được tiền thuốc, lúc đó tỉ lệ tiền thuốc sẽ thấp. Vừa rồi Bộ trưởng Bộ Y tế đã chỉ đạo Cục quản lí dược đi một số nước để tham khảo giá thuốc như thế nào, thì thấy tại Thái Lan và Trung Quốc với loại thuốc như vậy, giá của họ cao hơn rất nhiều.

 

Tuy nhiên về phía Bộ Y tế vẫn phải chỉ đạo làm thế nào để giá thuốc vẫn phù hợp trong điều kiện của VN nên các BV phải tổ chức đấu thầu theo đúng quy định của Luật Đấu thầu thì Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 01 hướng dẫn đấu thầu trong các cơ sở khám chữa bệnh. Thông tư 11 hướng dẫn các hồ sơ về mời thầu. Có thể nói việc ban hành Thông tư như vậy tạo ra kết quả rất tốt, các BV đã làm theo đúng hướng dẫn này. Như vậy giá thuốc mua vào của các BV có phần giảm hơn.

BTV: Do quy định chi trả cho bệnh nhân khám chữa bệnh BHYT trái tuyến hiện đang được thanh toán ở mức tương đối cao từ 30- 70% chi phí, nên một thực tế là nhiều người bệnh vẫn đang được “khuyến khích” đổ dồn lên các bệnh viện tuyến trên, gây quá tải. Các vị khách mời đánh giá sao về điều này?

 

Ông Lê Thanh Hải: Vấn đề quá tải có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân là việc chi trả BHYT khi vượt tuyến là 30-70%. Đó cũng là bất cập và đề nghị nên thay đổi. Khi đã vượt tuyến thì phải tự chi trả, trừ trường hợp cấp cứu. Khi bệnh nhân cấp cứu đã ổn định sẽ chuyển xuống tuyến dưới để điều trị cho phù hợp. Còn nếu muốn điều trị ở bệnh viện trung ương thì phải chi trả cho giai đoạn điều trị đó.

 

BTV: Ông Phạm Lương Sơn nghĩ thế nào?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Tôi nghĩ ông Hải nói rất có lý. Khi xây dựng Luật BHYT đưa ra cơ chế thanh toán vượt tuyến, trái tuyến để bảo đảm tốt quyền cho bệnh nhân. Với một số nhóm đối tượng do điều kiện khách quan, họ không thể đi đến đúng tuyến thì  vẫn  được hưởng quyền lợi BHYT.

 

Có một số đối tượng cao hơn thu nhập bình quân chung của xã hội, cũng cần đáp ứng nhu cầu thụ hưởng điều kiện tốt hơn, mặt hạn chế của nó cũng gây nên tình trạng quá tải. Trong lần sửa Luật này đã đề cập làm sao đưa điều trị trái tuyến vào đúng quỹ đạo, để phục vụ tốt người bệnh, tránh việc quá tải do đổ dồn lên các bệnh viện tuyến trên.

BTV: Nhiều nơi có hiện tượng lợi dụng ý nghĩa của việc xã hội hóa y tế để thu lợi bất chính trên chính những người bệnh đang phải gồng mình để chống chọi bệnh tật. Đối nghịch với cảnh mòn mỏi chờ đợi khám có khi hàng tháng trời ở khu BHYT thì ở khu vực khám dịch vụ theo yêu cầu – nơi có sự góp vốn cổ phần của tư nhân thì như một thế giới khác và đương nhiên người bệnh có thể được khám ngay trong ngày. Tôi thiết nghĩ cần có một cuộc rà soát tổng thể, không thể để mang danh Bệnh viện công mà phục vụ cho nhóm lợi ích, tạo sự phản cảm phân biệt đối xử với người bệnh, gây thiệt thòi cho người nghèo.

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Trước hết, chúng ta phải khẳng định, xã hội hóa trong y tế đem lại quyền lợi rất lớn cho người bệnh vì trong điều kiện đất nước còn khó khăn, nguồn xã hội hóa vào bệnh viện và nhất là đầu tư trang thiết bị y tế giúp các bệnh viện có điều kiện để chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

 

Tuy nhiên, một số bệnh viện cũng thực hiện xã hội hóa chưa phù hợp, nhưng hiện về các văn bản pháp lý, đã có Nghị định của Chính phủ, Bộ Y tế có Thông tư 15 quy định rất rõ việc thực hiện xã hội hóa trong các bệnh viện. Trong thời gian qua, dư luận cũng nêu vấn đề như câu hỏi trên, Bộ trưởng Bộ Y tế đã chỉ đạo Thanh tra Bộ phối hợp với thanh tra các Sở Y tế thanh tra các bệnh viện thuộc Sở, còn các bệnh viện thuộc Bộ chúng tôi cũng đã có các cuộc thanh tra chuyên về xã hội hóa, đã báo cáo Bộ trưởng để có chỉ đạo quyết liệt trong thực hiện xã hội hóa làm sao theo đúng tinh thần chủ trương xã hội hóa mà Đảng, Nhà nước đã ban hành.

 

Ông Lê Thanh Hải chia sẻ thêm: Đây là vấn đề của thực tiễn, như Thứ trưởng vừa nói, thời gian qua, xã hội hóa đã góp phần rất tích cực và hiệu quả vào vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân, vì nguồn lực của nhà nước hạn chế, phải huy động nguồn lực trong dân.

 

Với Bệnh viện Nhi Trung ương chưa có nhiều dịch vụ xã hội hóa, nhưng để phát huy tác dụng xã hội hóa, có tính chất vẫn phải công bằng- hiệu quả- phát triển, theo tôi, đầu tiên phải thực hiện được 2 vấn đề lớn.

 

Thứ nhất, phải làm đúng quy trình, các quy định của nhà nước, Bộ Y tế ban hành.

 

Thứ 2, khi đã xã hội hóa phải thực hiện tốt dân chủ cơ sở, phải nói rõ cho dân biết, người dân được hưởng gì, được sử dụng các dịch vụ như thế nào và chi phí bao nhiêu. Người dân tự lựa chọn.

 

Quan điểm thứ 2, khi đã xã hội hóa thì trong khám chữa bệnh về mặt chuyên môn không có phân biệt giàu- nghèo, chỉ khác nhau về cung cấp dịch vụ. Về chuyên môn phải đảm bảo công bằng tuyệt đối.

BTV: Theo một cuộc khảo sát tại TP.HCM vừa qua cho thấy thời gian chờ khám bệnh của mỗi bệnh nhân bình quân từ 2-4 tiếng nhưng thời gian khám bệnh của bác sĩ chỉ khoảng 2 đến 10 phút cho một người, bên cạnh đó là thái độ phân biệt với người bệnh, đây là điều khiến người khám bệnh bằng thẻ Bảo hiểm y tế rất bức xúc. Xin ông, bà cho biết ý kiến?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Phản ánh như độc giả nêu là có một số nơi cá biệt và Bộ trưởng Bộ Y tế đã có chỉ đạo rất quyết liệt, làm thế nào để tạo sự hài lòng cho người bệnh có thẻ BHYT, không phân biệt trong khám chữa bệnh giữa người có thẻ BHYT và người khong có thẻ.

 

Về quy trình khám chữa bệnh thì một số BV tuyến cuối ở HN, TPHCM, quá tải, vì vậy, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành quyết định về cải cách hành chính trong BV. Nếu đi thăm một số BV như ở Phú Thọ, Bắc Ninh thì thấy rằng phòng khám đã được chỉnh trang tốt, thứ hai là bố trí phòng khám phù hợp, thứ ba là áp dụng công nghệ thông tin. Tôi có hỏi một số bệnh nhân khám tại BV Phú Thọ thì được biết trước  kia phải chờ đợi rất lâu, hang tiếng đồng hồ, nhưng nay đã giảm xuống, quy trình khám bệnh cũng có cải tiến. Về phản ánh thời gian khám bệnh chỉ 2-10 phút thì là khám thực thể còn lại là thời gian xét nghiệm theo chỉ định của bác sỹ để chẩn đoán cụ thể, vì vậy, thời gian chờ đợi của bệnh nhân có thể dài hơn.

 

BTV: Thưa ông Lê Thanh Hải, hiện một BS ở BV Nhi khám trung bình một bệnh nhân là bao nhiêu phút?

 

Ông Lê Thanh Hải: Thời gian qua, chúng tôi đã tăng cường từ 15 phòng lên 50 phòng khám hằng ngày để đáp ứng nhu cầu người dân. Hiện một ngày có khoảng 3.000 trẻ đến khám ở BV Nhi TƯ thì một BS (với 8 giờ làm việc/ngày theo quy định) phải khám khoảng 50-60 bệnh nhân và dành thời gian nhiều hơn cho khám và tư vấn cho gia đình và qua đó sẽ tránh lạm dụng xét nghiệm, cận lâm sàng, và tăng thêm kiến thức cho bố mẹ các cháu. Tất nhiên là những trường hợp đặc biệt, thời gian có thể kéo dài hơn. Còn hiện nay thời gian chờ khám bệnh từ 3-4 tiếng hiện chỉ còn 1-2 tiếng, trừ những trường hợp đặc biệt, đòi hỏi xét nghiệm chuyên khoa sâu.

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Đa số các bác sỹ, điều dưỡng rất tâm huyết, có trách nhiệm với bệnh nhân, nhưng cũng có một số cá nhân như chị nêu. Vừa qua Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 29 về quy tắc ứng xử của cán bộ, nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh; Bộ Y tế cũng tổ chức 11 lớp tập huấn ở các vùng (mỗi lớp 600 người, cả Giám đốc bệnh viện, Điều dưỡng viên trưởng) về quy tắc ứng xử. Tôi tin rằng quy tắc ứng xử trong ngành y tế sẽ được thực hiện ngày càng tốt hơn.

 

Ông Phạm Lương Sơn: Chúng ta nên nhìn khách quan hơn về  thời gian khám chữa bệnh, không nên chỉ nhìn vào thời gian khám chữa bệnh chỉ 2-10 phút mà phải tính tổng thể về thời gian từ đăng ký đến chỉ định cuối cùng. Và thời gian qua, ngành y tế đã có những chuyển biến nhất định, những than phiền về thời gian khám chữa bệnh đã giảm nhiều.

BTV: Gần đây có nhiu thông tin trên báo đài phản ánh thực trạng tại một số địa phương, ví dụ như tỉnh Yên Bái nhiu người dân được cấp tới 2, 3 thẻ BHYT, hoặc như tại Khánh Hòa người dân bị cấp sai mã thẻ BHYT, điu này ảnh hưởng như thế nào tới người dân cũng như các cơ sở khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế, xin ông cho biết công tác cấp phát thẻ Bảo hiểm y tế hiện nay được quản lý theo hình thức nào?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Trước hết nói về chuyện cấp trùng thẻ BHYT, đây là thực tế, chúng tôi đã tiến hành rà soát kiểm tra trên toàn quốc để xác định xem có bao nhiêu thẻ bị cấp trùng.

 

Nguyên nhân cơ bản là chưa kết nối, chưa thống nhất được giữa các đơn vị cấp thẻ BHYT.

 

Về việc cấp sai mã thẻ ở Khánh Hòa, đây là lỗi sai kỹ thuật và chúng tôi đã đề nghị BHXH Khánh Hòa khắc phục ngay. Về quyền lợi của người có thẻ BHYT, việc cấp trùng thẻ cũng không ảnh hưởng nhiều vì có thể thực tế người bệnh dùng cả 3 thẻ BHYT đi khám vẫn được thanh toán. Cơ sở khám chữa bệnh cũng chưa bị thiệt hại gì bởi việc tính quỹ xác định BHYT đã tính vào số thẻ được đăng kí ban đầu của BV. Vừa rồi Bộ Tài chính có thu hồi số tiền đó. Chúng tôi đã tích cực làm việc đó và nếu thực hiện được việc đó một cách trọn vẹn thì nguồn tài chính sẽ không bị ảnh hưởng.

BTV: Trên một tờ báo số ra ngày 13/5 có bài viết “Đục khoét quỹ Bảo hiểm y tế” nêu thực trạng kê đơn thuốc khống của một số y bác sỹ tại TP.HCM tiếp tay cho nhiều đối tượng sử dụng thẻ BHYT (của nhiều người không hề đau ốm) để “rút ruột” thuốc từ bệnh viện tuồn ra ngoài bán kiếm lời, điều này cho thấy tồn tại lỗ hổng quá lớn trong việc quản lý sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế và giám định chi. Với những trường hợp này, phải xử lý như thế nào?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Đây là trường hợp cá biệt trong cơ sở khám, chữa bệnh. Thời gian qua, Bộ Y tế đã có nhiều công văn chỉ đạo các bệnh viện phải thực hiện nghiêm Luật khám chữa bệnh, các văn bản hướng dẫn, trong đó có Nghị định số 92 về xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm vấn đề BHYT. Bộ Y tế cũng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Những trường hợp vi phạm phải xử phạt để làm gương. Quan điểm chỉ đạo của Bộ Y tế là phải thực hiện nghiêm túc, tạo điều kiện cho người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh, chất lượng khám chữa bệnh phải được nâng lên. Các bệnh viện phải thực hiện nghiêm túc những quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật BHYT và các Nghị định liên quan.

Bạn Đinh Văn Quyết sống tại Thành phố Cần Thơ gửi thư đến chương trình: “Theo tôi được biết hiện ở Việt Nam có khoảng 7-10% dân số bị bệnh hiếm muộn, căn bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân bệnh nhân mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc nhiều gia đình. Tôi xin hỏi tại sao đến nay BHYT vẫn chưa quan tâm đến nhóm đối tượng này và liệu tới đây khi Luật bảo hiểm y tế mới ban hành, những đối tượng trên có nằm trong diện được thụ hưởng chính sách?”

 

Ông Phạm Lương Sơn: Tôi nghĩ rằng, Quỹ BHYT sẽ thực hiện chi trả theo quy định của luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Quỹ BHYT cũng sẽ sẵn sàng chi trả cho các bệnh nhân hiếm muộn nếu được quy định, tất nhiên chúng ta cũng cần cân nhắc vì đây là quỹ BHYT, phải đảm bảo chi trả các quyền lợi, dịch vụ y tế cơ bản cho cộng đồng. Trong chương trình sửa Luật cũng đang đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên chưa có đáp án cuối cùng.

 

Một người dân sống tại xã Tùng Khê huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ hỏi: Do thuốc điều trị một số bệnh quá đắt, ví dụ như thuốc điều trị bệnh viêm gan siêu vi C, nên những cơ quan có trách nhiệm đã trì hoãn lên phác đồ điều trị và tạm dừng chi trả. Thậm chí tính đến đưa loại thuốc này ra khỏi danh mục được Bảo hiểm y tế chi trả, Tôi thiết nghĩ, Bảo hiểm y tế là “phao cứu sinh” của nhiều người, đặc biệt là người nghèo, cần có giải pháp chứ không thể đưa ra khỏi danh mục được bảo hiểm là xong. Xin bà cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Đối với BHYT và bệnh nhân không tham gia BHYT, cho đến giai đoạn này vẫn rất bình đẳng. Trong danh mục thuốc dùng cho BHYT, hiện có Thông tư 31 về danh mục thuốc chủ yếu dùng cho bệnh nhân BHYT. Hiện danh mục này tương đối mở rộng, tất cả các bệnh, các thuốc trong các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị và trong các chuyên ngành mà cần phải đưa vào thì giữa Bộ Y tế phối hợp với BHXHVN đều thống nhất đưa các thuốc đó vào. Ngay cả viêm gan C, những thuốc rất đắt tiền, hiện vẫn nằm trong danh mục thuốc dùng cho BHYT. Cho nên, thực sự Bộ Y tế và BHXHVN không có quan điểm là thuốc đắt tiền, thực sự dùng cho bệnh nhân có hiệu quả, mà lại đưa ra khỏi danh mục.

Bạn Giàng A Thái dân tộc Mông sống tại xã Bản Qua huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai hỏi: BHYT hiện quy định chỉ chi trả phí khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số và những nguời đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội là 95%, 5% còn lại họ tự chịu. Tôi thấy đây là một điều bất hợp lý vì trên thực tế đồng bào dân tộc thiểu số chúng tôi và những người đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội thì lấy đâu ra tiền để cùng chi trả. Xin bà cho biết, trong Luật BHYT sửa đổi tới đây sẽ có thêm những chính sách ưu đãi gì cho nhóm đối tượng chúng tôi?

 

Bà Nguyễn Thị Xuyên: Việc người tham gia BHYT cùng chi trả để họ có trách nhiệm hơn khi khám chữa bệnh. Thứ hai họ cũng là người giám sát chi tiêu, kỹ thuật sử dụng đối với họ còn nếu BHYT hoàn toàn chi trả thì họ không cần biết. Tuy nhiên đối với người nghèo, dân tộc thiểu số ở cùng khó khăn thì Bộ Y tế cũng đang bàn Bảo hiểm xã hội Việt Nam để đưa vấn đề này vào quy định trong dự thảo luật để trình các cấp có thẩm quyền.

 

Chị Thụy Anh, địa chỉ số 9 ngõ 90 đường Bưởi gửi thư đến chương trình có hỏi: Theo quy định, trẻ em dưới 6 tuổi được BHYT chi trả 100% phí khám chữa, nhưng theo tôi được biết hiện có khoảng 2 triệu trẻ em chưa được cấp thẻ BHYT, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi của các em? Và trong trường hợp khi các em nhỏ đến khám, chữa bệnh sẽ được giải quyết ra sao, nhất là đối với những trường hợp gia đình nghèo, không có điều kiện chi trả viện phí?

 

Ông Lê Thanh Hải: Về việc nhiều trẻ sơ sinh phải điều trị nhưng chưa được thanh toán do chưa có thẻ BHYT, hiện đã có sự thay đổi là chỉ cần giấy chứng sinh, giấy khai sinh hoặc UBND xã chứng nhận. Nếu làm không đúng, không chuẩn, không linh hoạt thì việc chi trả BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi dành cho những trẻ thuộc những gia đình có điều kiện. Vì những gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện tiếp cận thủ tục hành chính, rất mất thời gian, tiền bạc nếu phải đi lại để xin đầy đủ giấy tờ xác nhận cho trẻ dưới 6 tuổi. Thậm chí có trường hợp chúng tôi còn mời giám định viên BHYT vào chứng kiến và xác nhận đây là trẻ dưới 6 tuổi để ghi vào hồ sơ.

 

Ông Phạm Lương Sơn: Thông tin độc giả nói khoảng 2 triệu trẻ em chưa được cấp thẻ BHYT là vào năm 2010 khi chúng ta bắt đầu thực hiện Luật BHYT. Còn đến năm 2012 tuyệt đại đa số trẻ em dưới 6 tuổi đã có thẻ BHYT với sự vào cuộc rất mạnh của hệ thống y tế cơ sở, UBND xã và cơ quan Bảo hiểm xã hội. Còn những em không có thẻ BHYT thì đa phần thuộc đồng bào dân tộc ít người ở miền núi, Tây Nguyên, và chúng tôi đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh này phải có cơ chế đặc thù, bản thân cán bộ làm công tác này phải liên hệ chặt chẽ với thôn, bản, phum sóc để lập danh sách các cháu.

 

Về phía cơ sở khám chữa bệnh thì cũng có những chính sách đặc thù bởi việc khai, đọc tên trẻ người dân tộc cũng có những khó khăn nên phải áp dụng giải pháp thủ tục hành chính đặc thù.

 

Đối với những trường hợp trẻ dưới 6 tuổi khi cấp cứu thì ngoài việc có giấy khai sinh, giấy chứng sinh thì cần phải hết sức linh hoạt trong việc áp dụng các quy định. Điển hình như tại Bệnh viện Nhi TƯ giám định viên đến xác nhận trẻ dưới 6 tuổi. Chúng tôi cũng có quy định là giám định viên ở các bệnh viện nhất là chuyên khoa nhi khi trẻ chưa có giấy khai sinh, chứng sinh thì ghi lại lời khai của bố mẹ các trẻ để chuyển về địa phương rà soát, tiến hành cấp thẻ BHYT cho các cháu. Vì nguồn kinh phí để mua thẻ Bảo hiểm y tế là do ngành tài chính cấp. trong thời gian đó các cháu vẫn được thanh toán toàn bộ chi phí điều trị nếu có xác nhận của bệnh viện, giám đốc bệnh viện.

Một người dân có địa chỉ hòm thư là doantrang@..com hỏi: Bên công ty tôi định mua BHYT cho 5 người nước ngoài, xin vui lòng cho biết thủ tục như thế nào và họ có được khám chữa bệnh như người Việt Nam không? Mức chi trả BHYT dành cho họ là bao nhiêu %.?

 

Ông Phạm Lương Sơn: Theo quy định của Luật BHYT, phạm vi điều chỉnh đối với cả lao động người nước ngoài học tập làm việc và sinh sống tại VN. Vì vậy nếu người  nước ngoài có Hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên hoàn toàn được quyền tham gia BHYT như người VN và được chi trả như người VN với mức là 80% chi phí còn 20% chi phí còn lại sẽ cùng chia sẻ để đảm bảo quyền bình đẳng giữa lao động nước ngoài và lao động VN.

BTV: Để BHYT thực sự là lá chắn, là công cụ hữu hiệu bảo vệ sức khỏe toàn dân, và tiến tới hoàn thành mục tiêu mà đề án Bảo hiểm y tế toàn dân đề ra trong năm 2015 hơn 70% và năm 2020 là hơn 80% số dân tham gia BHYT thì ngoài sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị còn là ý thức trách nhiệm của mỗi công dân. Việc tham gia đóng góp quỹ một cách đầy đủ không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi của mỗi người. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của chính mình và đóng cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe chung của cả cộng đồng.

Xin cảm ơn các vị khách mời. Cảm ơn sự theo dõi của quý vị.

Cổng TTĐT Chính phủ

Bạn nên đọc

Ký gởi, cho thuê xe ôtô du lịch tự lái, cho công ty thuê xe tháng …

Công ty TNHH Siêu Thị Ô Tô Giám đốc Điều Hành: Pham.Giang Mobile : 0918-61-8839 …

%d bloggers like this: