Tọa đàm trực tuyến về tiêu thụ – xuất khẩu nông sản

14h30 ngày 25/5, Thứ trưởng Công Thương – Trần Tuấn Anh cùng đại diện Bộ Nông nghiệp và chuyên gia Nguyễn Trí Ngọc trao đổi, trả lời câu hỏi của độc giả VnExpress xung quanh câu chuyện đầu ra cho nông sản Việt.

Với vai trò cơ quan quản lý thương mại, Thứ trưởng Trần Tuấn Anh có thể cung cấp cho độc giả một cái nhìn khái quát về thị trường nông sản Việt Nam hiện nay, cũng như tình hình phân phối, xuất nhập khẩu những tháng vừa qua?

MC

Ông Trần Tuấn Anh – Thứ trưởng Bộ Công Thương: 

Trước tiên, chúng ta phải nhìn nhận 4 tháng đầu năm đã có một số khó khăn trong xuất khẩu nông sản, đặc biệt là các mặt hàng chủ đạo như gạo, cao su, sắn… sụt giảm về kim ngạch và sản lượng. Đối với xuất khẩu Việt Nam, ngoài xuất khẩu qua chính ngạch thì còn có hiện tượng nóng là ùn tắc tại cửa khẩu dưa hấu, thanh long, gạo và các hàng hóa khác.Mặc dù có sự sụt giảm về quy mô, tuy nhiên, cơ bản trong 4 tháng đầu năm, các mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam về cơ bản vẫn giữ ở tương đối, nói tương đối vì so với các nguồn cung khác tương đối cân bằng. Ngoài ra, các sản phẩm chính của chúng ta vẫn giữ được thị trường, tạo tiền đề cho các tháng tiếp theo.

Xuất khẩu chính ngạch vẫn là kênh cơ bản giúp tiêu thụ các sản phẩm của Việt Nam. Còn các hiện tượng ách tắc cơ bản như dưa hấu, thanh long chỉ là hiện tượng cục bộ, vì đây là hoa quả theo mùa vụ, chưa có quy hoạch, ngoài ra còn do tập quán và thói quen của các thương nhân nên không chủ động được, dẫn đến năng lực thông quan của các cơ quan ở biên giới vượt quá thực tế.

Thời gian qua đã có chỉ đạo của các bộ ngành để giải quyết các ùn tắc đó.

Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu nông sản có sụt giảm 6,4% so với cùng kỳ 2014, một số thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Hàn quốc đều có sự sụt giảm, riêng Trung Quốc tăng 3,7%. Tuy sụt giảm, nhưng cơ bản các lượng hàng cần tiêu thụ trong thị trường đều có hướng giải quyết.

Chúng ta cần nhìn nhận là năm 2014 là năm thành công với xuất khẩu nông sản tăng 10%, các mặt hàng của chúng ta đặt được bước tới hạn. Đây là nguyên nhân khiến trong 4 tháng đầu năm có sự sụt giảm tương đối.

Ông Trần Tuấn Anh – Thứ trưởng Bộ Công Thương.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng có thể chia sẻ thêm về tình hình chế biến nông sản tại Việt hiện nay? Hoạt động chế biến đang nằm ở đâu trong chuỗi cung ứng nông sản?

Quang Tung, 36 tuổi

Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng phòng Chế biến (Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối): 

Xin tiếp lời Thứ trưởng Trần Tuấn Anh, trước khi đề cập về chế biến, chúng ta phải nói rằng trong khi nông sản sụt giảm về mặt xuất khẩu thì xuất khẩu một số mặt hàng lại tăng, ví dụ gỗ hết 4 tháng đầu năm tăng 6,6%, xuất khẩu quế hồi tăng lớn 40% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nói về chế biến nông sản, nông lâm thủy sản đang có bước phát triển lớn quyết liệt, đặt ra mục tiêu ngày càng tạo ra giá trị cao hơn cho bà con nông dân trong giai đợn 2014 đến 2020.

Chế biến nông sản của chúng ta đang trong giải đoạn sơ chế là chính, còn sản xuất các sản phẩm chất lượng cao còn hạn chế. Khâu sơ chế bảo quản là khâu quan trọng nhất. Về sản lượng, nông sản của Việt Nam đều được qua khâu chế biến tiêu thu, nhưng công tác bảo quản đang được đẩy mạnh để đưa sản phẩm càng nhanh càng tốt cho người tiêu dùng.

Tỷ trọng chế biến sâu hiện nay chỉ chiếm 10 đến 30% tổng sản lượng nông sản sản xuất ra. Mặc dù vậy, không phải khâu tỷ trọng chế biến hoàn toàn yếu kém, có những mặt hàng chúng ta chế biến ngang tầm khu vực, ví dụ mặt hàng điều chẳng hạn, hoặc thủy sản, dây chuyền của chúng ta đều ngang tầm thế giới.

Bên cạnh sản xuất hàng hóa, nông nghiệp Việt Nam còn khó khăn vì phụ thuộc vào một số thị trường trong khi tiêu thụ trong nước chưa phát triển. Tiến sĩ Ngọc đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Nguyễn Tuân, 31 tuổi

Ông Nguyễn Trí Ngọc: Tôi nghĩ khó khăn lớn nhất hiện nay là thị trường. Phát triển thị trường cần hiểu gồm đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại và sự gia tăng nhu cầu tiềm năng với các sản phẩm nông nghiệp – đây là yếu tố quan trọng. Nên có tư duy đổi mới theo hướng như vậy.

Điểm yếu cốt tử của nông sản VN là gì? Đó là chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.Câu chuyện này nói nhiều rồi nhưng khi ra thị trường, điểm yếu cốt tử này ngày càng bộc lộ sâu hơn, rõ hơn, không chỉ với mặt hàng thế mạnh như gạo, cao su, cà phê. Bức tranh về lượng đều nhất nhì nhưng về giá chỉ đứng ở thứ 7, 8 thậm chí thứ 10. Chính là ở chất lượng hàng nông sản.

Ngoài việc phát hiện những vấn đề chung, cần có giải pháp tập trung tháo gỡ những vấn đề cốt lõi đó. Khi tháo gỡ được, sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất đáp ứng thị trường trong và ngoài nước nói riêng sẽ từng bước khắc phục được những yếu kém hiện nay.

Ông Nguyễn Trí Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây.

Về phía Bộ Công Thương, cơ quan quảm lý có giải pháp gì để phát triển thị trường tiêu thụ nông sản trong nước?

Nguyễn Hoàng Minh, 27 tuổi

Ông Trần Tuấn Anh: Về công tác phát triển thị trường trong nước, chúng ta đều có các đề án và chỉ đạo của Chính phủ, ví dụ mới đây nhất là đề án đổi mới phương thức tiêu thụ 4 nông sản chủ yếu như gạo, thủy sản…

Trong đó, tập trung vào phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng nông thôn. Đây là điều quan trọng, thời gian qua chúng ta để điểm trắng lớn trong hệ thống hạ tầng, đặc biệt là chợ đầu mối, chợ lớn khiến luân chuyển hàng hóa không thuận lợi. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hiện trượng được mùa, mất giá. Ngoài ra, việc thiếu hạ tầng còn khiến tổn thất sau thu hoạch rất lớn, làm giảm giá trị sản phẩm.

Thứ hai là thiếu cơ chế chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia phân phối, như chợ, cửa hàng tiện lợi… chưa có điều kiện phát triển ở nông thôn.

Thứ ba là hệ thống hạ tầng sau thu hoạch phát triển chưa tốt, nên chỉ có một số mặt hàng như gạo, cà phê có kho sau chế biến, nhưng chất lượng chưa cao nên việc tạm trữ chưa thuận lợi cho chế biến, xuất khẩu.

Do đó, thời gian qua bên cạnh đề án nghiên cứu phương thức tiêu thụ nông sản, đề án kết nối giữa địa phương để tạo sự liên kết giữa thương lái, hợp tác xã và nông dân đã có một số kết quả, Bộ Công Thương cũng triển khai cho các địa phương chương trình bình ổn giá, như kết nối hệ thống siêu thị, công ty thương mại với các vùng nông sản. Trên thực tế, hiện nay phương thức này đã mở ra ở 44 địa phương, không cần nguồn trợ giá của chính phủ nhưng đã thực hiện khá tốt như TP HCM, vùng Đông Nam Bộ. Đây là mô hình thuận lợi và có thể nhẩn ộng.

Nhưng quan trọng nhất là vẫn phải có biện pháp đồng bộ để tạo ra chuỗi giá trị và có doanh nghiệp tham gia. Chính doanh nghiệp là người kết nối giữa nông dân với thị trường và doanh nghiệp chính là động lực để nông dân cải thiện chất lượng sản phẩm.

Hiện nay yêu cầu của người dân rất cao về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách thức mua bán nên rất cần sự tham gia của doanh nghiệp, Như vậy, cần cơ chế chính sách để thu hút doanh nghiệp tham gia quá trình phân phối.

Như phân tích của Tiến sĩ Ngọc, một trong những yếu kém cơ bản của nông nghiệp Việt Nam là nông dân chưa tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa. Đại diện Bộ Công Thương bình luận gì về vấn đề này?

MC

Ông Trần Tuấn Anh – Thứ trưởng Bộ Công Thương: 

Tôi cũng đồng tình với anh Ngọc và anh Dũng. Đối với nền kinh tế đã hội nhập cao, có cơ hội tiếp cận với các thị trường lớn thế giới, chúng ta phải tiếp tục mở cửa mặt hàng nông sản, dịch vụ, khi đó người dân là chủ thể chịu tác động của các quá trình này. Do đó, năng lực cạnh tranh phải được mở ở mức cao nhất, đặc biệt là khâu sản xuất. Nên nông nghiệp phải phát triển mạnh ở khâu sản xuất theo các quy hoạch.

Thực tế, chúng ta không thiếu quy hoạch, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã có hàng loạt quy hoạch, như quy hoạch về sản xuất lúa gạo, cao su, cà phê, nhưng thực tế là các quy hoạch này khi làm bị phá vỡ và không thực hiện như đã vạch ra.

Ngoài ra, quy mô sản xuất của Việt Nam chủ yếu dựa trên hộ cá thể, chủ yếu là nhỏ lẻ, 70% là quy mô dưới 0,5 ha và 35% là dưới 0,2 ha, nên rất khó nói là sản xuất nông nghiệp có quy mô và diện tích canh tác theo quy hoạch. Đây là điểm yếu mà chúng ta bộc lộ rõ khi hội nhập, dẫn tới việc triển khai, tham gia các chuỗi là khó khăn, doanh nghiệp rất khó tiếp cận với các chuỗi như thế này.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ, nhưng ngay sau khi kết thúc vụ dưa vừa qua, nông dân tại một số địa phương cho biết sẽ tiếp tục trồng vụ mới. Ông có bình luận gì về hiện tượng này và hướng giải quyết đề xuất ra sao?

Hoàng Anh, 35 tuổi

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: Lo ngại của độc giả nói trên hoàn toàn chính đáng. Nhưng thực tế, việc nông dân tiếp tục trồng dưa cho thấy vẫn tin tưởng vào loại cây này, chứng tỏ trong quá trình sản xuất họ không tìm được loại cây nào hiệu quả hơn. Nếu chuyển sang loại cây khác thì có khả năng yếu tố hên xui còn nhiều hơn.

Với những giải pháp mà Thứ trưởng Trần Tuấn Anh vừa đưa ra, chúng ta thấy rằng ùn ứ chỉ là cục bộ, mưa bão ngập lụt chỉ là một phần nguyên nhân. Phần lớn nguyên nhân ùn ứ đến từ việc lưu thông. Tôi cho rằng trong trường hợp này, người nông dân vẫn bắt được tín hiệu từ thị trưởng nên mới trồng dưa. Trước khi trồng họ phải xem tín hiệu thị trường rồi họ mới trồng.

Khi chúng ta định hướng thị trường, cũng phải phụ thuộc phần lớn vào quyết định của người nông dân, nhà quản lý không thể bắt buộc nông dân đang trồng dưa lại chuyển sang cây lúa.

Tôi nhớ câu nói của một Thị trường Nhật Bản tên Hiramatsu là không thể bắt nông dân trồng cái A cái B vì khi họ trồng xong nếu không bán được họ sẽ mang đến cửa nhà quản lý.

Do đó, khi định hướng chúng ta phải làm sao để định hướng người nông dân trồng cân nhắc tới sự phù hợp với thế mạnh của người dân cũng như nhu cầu thị trường.

Ông Nguyễn Trí Ngọc

Tôi tán thành ý kiến của Thứ trưởng. Tôi nghĩ hệ thống thông tin dữ liệu phục vụ cho thị trường nông nghiệp có những bất cập. Thông tin sản xuất tiêu thụ sản phẩm của một số sản phẩm rất khó tìm kiếm. Nếu tìm những cây cung cấp đó từ phía nhà nước (sản xuất, chế biến, xuất khẩu, tồn kho), số liệu này “kín như bưng”. Đó là bất cập thứ nhất. Trong đó, các cơ quan nhà nước có đủ dữ liệu. Tôi biết cả 2 bộ đều có dữ liệu, nhưng chỉ phục vụ cho lãnh đạo, rất ít khi doanh nghiệp, người nông dân được tiếp cận chúng.

Có những thông tin ngay bản thân những doanh nghiệp nắm được nhưng lại không cung cấp ra đầy đủ cho nông dân. Những câu chuyện về bí mật thương mại tôi không nói nhưng đó cũng thể hiện bất cập.

Thứ hai, vai trò của chính quyền địa phương. Tôi rất đồng tình với Thứ trưởng. Với các bộ ngành, để triển khai tháo gỡ, có rất nhiều công việc đã làm, đề án nọ đề án kia. Nhưng những đề án được duyệt, để đấy, triển khai xuống địa phương lại ách tắc. Vì vậy, lại tiếp tục trồng dưa hấu thì nó thể hiện nhiều bất cập. Làm sao khắc phục được thì cần từ nhiều phía để thông tin thị trường đến được người dân, doanh nghiệp, để cơ quan quản lý Nhà nước nắm được, điều hành theo đúng định hướng.

Thứ ba, sự phối kết hợp, ở đây có sự phân cấp trong tiêu thụ nông sản và phân cấp của Chính phủ với các bộ ngành, tôi thấy có nhiều vấn đề. Nếu chúng không được giải quyết, những trục trặc này vẫn xảy ra.

Ông Trần Tuấn Anh

Tôi cho rằng có một điểm mà chúng ta cần thống nhất với nhau, hiện Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã có buổi làm việc thống nhất với nhau để đánh giá tình hình và triển khai công tác phối hợp với nhau thời gian tới, đó chính là khâu nắm bắt thông tin của nông dân như thế nào. Chúng ta phải cung cấp được đầy đủ thông tin cho người nông dân, thống nhất cung cấp thông tin gì, như thế nào cần phải bàn rõ ràng.

Một thành phần khác cần nói đến và có vai trò quan trọng là chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương không ép được người nông dân trồng cây gì, nuôi con gì nhưng có thể hướng dẫn người nông dân trong khâu canh tác và tiêu thụ.

Tôi muốn nói lại tình trạng ùn tắc dưa hấu, khi đó có yêu cầu địa phương đánh giá tình hình sản lượng dưa hấu, nhưng thực tế cho thấy là địa phương không nắm được sản xuất ở địa phương. Hai bộ không thể xuống làm thay địa phương, nên chúng tôi cho rằng khâu thông tin, kể cả tín hiệu thị trường cũng rất cần thiết, kể cả khâu lan tỏa thông tin cũng là vấn đề.

Thời gian tới đây 2 bộ sẽ làm việc với địa phương, vùng nông sản về khâu định vị và phổ biên thông tin và làm cách nào để phát triển nông sản

Về câu chuyện người nông dân vẫn phải canh tác dưa hấu và đối mặt với hên xui, tôi nghĩ hên xui phụ thuộc vào thời tiết, điều kiện canh tác và thị trường tiêu thụ. Theo tôi, thông tin về tiêu thụ thị trường chúng ta hoàn toàn có thể đánh giá và phổ biến cho người nông dân nhưng phải có sự phối hợp của bộ ngành trong phổ biến và sự kết nối với doanh nghiệp.

Chẳng hạn như mặt hàng vải làm rất tốt trong khâu kết nối giữa doanh nghiệp với người nông dân, nhưng dưa hấu lại có tình trạng ùn ứ. Do đó, đặc biệt phải có sự kết nối giữa người nông dân với doanh nghiệp, địa phương để phát triển thị trường.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng

Tôi cũng muốn bổ sung thêm một ý sau câu trả lời của anh Ngọc, đó là có một điều chúng ta chưa quan tâm đúng mức là lôi kéo doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng. Ví dụ năm nào chúng tôi cũng phải giải quyết vấn đề buôn bán vải Lục Ngạn, nhưng chúng tôi nhận thấy trên thực tế những người này rất nhạy bén. Bên kia biên giới giá tăng thì lập tức họ báo về để giá đầu nguồn tăng luôn. Tôi cho rằng các doanh nghiệp ngành vải hiện nay tương đối nhạy bén về mặt thông tin. Trong khi đó những mặt hàng như dưa hấu, hành tím vẫn chưa chú ý vấn đề thông tin doanh nghiệp. Chúng ta phải có được kết nối của doanh nghiệp đến quá trình tiêu thụ của nông dân, không để nông dân tự “bơi”.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng.

Thời gian qua, dư luận khá quan tâm đến vấn đề nông sản ùn ứ, khó tiêu thụ như dưa hấu, thanh long, hành tím… Việc này đã được giải quyết như thế nào?

Nguyễn Mạnh Dũng, 26 tuổi

Ông Trần Tuấn Anh thời gian qua có hiện tượng ùn tắc cục bộ một số mặt hàng trái cây khi thông quan. Từ đầu năm Bộ đã có dự báo trước khả năng sản lượng dưa hấu xuất khẩu qua cửa khẩu sẽ vượt qua khả năng của cửa khẩu. Bộ đã có chỉ đạo tỉnh Lạng Sơn tổ chức với phía Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thông quan, đồng thời có văn bản đề nghị địa phương rà soát quy hoạch và sản lượng phục vụ xuất khẩu.

Thực tế vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 Bộ cử cán bộ lên cửa khẩu để làm việc trực tiếp với địa phương và phía Trung Quốc nhằm tổ chức nâng cao hơn năng lực thông quan. Đầu tháng này, Bộ đã làm việc với địa phương một số việc như sau: Thứ nhất, rà soát lại, đánh giá để có biện pháp tổ chức thông quan tốt hơn. Thứ hai, hai bên kéo dài thời gian làm việc từ 7h sáng đến 20h tối. Thứ ba, mở thêm các địa điểm để tạo điều kiện cho các xe sang cửa khẩu để tăng dung lượng. Thứ tư, chủ động làm việc với địa phương- vùng trồng dưa hấu như Quảng Ngãi, Phú Yên… thống nhất tổ chức các phương án cụ thể nhất, đồng thời phối hợp tổ chức với các doanh nghiệp đầu mối để giảm bớt thời gian vật chất.

Tuy nhiên tôi cho rằng đây chỉ là giải pháp tạm thời của mùa vụ 2015. Sắp tới, quan trọng nhất là tổ chức lại cụ thể mặt hàng như dưa hấu, quả vải là mặt hàng có tính thời vụ nhưng có thể dự báo được thị trường cũng như năng lực tổ chức. Vừa qua, Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Nông nghiệp cùng 4 địa phương miền Trung, với phía Trung Quốc phải thống nhất cơ chế của hai bên một cách thuận lợi nhất. Cùng đó,  rà soát với địa phương nâng cấp hạ tầng cửa khẩu đặc biệt khu trung chuyển lưu giữ các nông sản tránh hiện tượng cục bộ ách tắc ảnh hưởng đến giá cả. Nếu có phối hợp chung giữa các bộ và địa phương sẽ có điều kiện cung cấp thông tin đến địa phương, nông dân.

Việc bảo quản nông sản để xuất khẩu là điều quan trọng nhưng nông dân và doanh nghiệp quá khó để có thông tin hướng dẫn cách bảo quản. Chúng tôi đã liên hệ với các viện nghiên cứu nhưng hầu như không nhận được câu trả lời. Các bộ ngành có biện pháp gì để giải quyết tình trạng này?

Lê Quốc, 39 tuổi

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: 

Với tư cách nhà khoa học bảo quản chế biến cũng như quản lý những vấn đề độc giả nêu theo tôi chưa đúng thực tế, có thể bạn trao đổi với cơ quan chưa có bề dày. Kinh nghiệm trên thế giới có nhiều công nghệ chế biến bảo quản thành công như vải bằng ozon, ion âm, sấy vải, sấy long nhãn… Năm 2013 Bộ đã ứng dụng công nghệ chế biến cá ngừ của Nhật hiện nay vẫn rất hiệu quả.

Việc hỗ trợ người nông dân tiếp cận thành tựu trong chế biến bảo quản vẫn còn hạn chế trong đó có hạn chế về nguồn lực, do đo việc chuyển giao công nghệ đến người nông dân còn nhiều hạn chế. Do vẫn sản xuất nhỏ lẻ nên áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến còn khó khăn. Như có một doanh nghiệp chiếu xạ thanh long đã liên hệ với Mỹ để công nhận quy trình chiều xạ nên họ độc quyền, doanh nghiệp ngoài Bắc muốn xuất khẩu vải thì phải vào Nam bởi doanh nghiệp đầu tư nhiều năm, nên bản thân nhà nước không thể tự làm mà cần doanh nghiệp. Bài học nhãn tiền cách đây vài năm chúng ta làm dứa và cà chua cô đặc, rất nhiều doanh nghiệp cùng nhảy vào làm nhưng cuối cùng đều phải đóng cửa hàng loạt vì không có nguyên liệu, hiện chỉ còn nhà máy tại Đồng Giao hoạt động. Vì không có nguyên liệu, một nhà máy công suất 200 tấn dứa một ngày, chỉ chạy một ngày mà đóng cửa 20 ngày. Do đó, việc này cần sự phối hợp giữa nông dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Hiện nay một số mặt hàng vải thiều đang bắt đầu vào mùa thu hoạch và tiêu thụ. Cơ quan quản lý đã chuẩn bị chuẩn bị kế hoạch như thế nào để tình trạng được mùa rớt giá, ùn ứ nông sản không tiếp tục xảy ra?

Phạm Thanh Hà, 37 tuổi

Ông Trần Tuấn Anh: Đối với mặt hàng vải năm nay, Bộ Công Thương trên cơ sở rút kinh nghiệm với Bắc Giang về kết quả mùa năm trước đã chủ động tạo khâu kết nối thị trường. Bộ Công Thương đã cùng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã cùng Bắc Giang tổ chức 2 hội nghị kết nối với doanh nghiệp đầu mối Trung Quốc tại Lào Cai, Lạng Sơn. Nội dung cụ thể là tạo điều kiện cho 2 phía trao đổi trong việc tổ chức, thu mua, bao tiêu sản phẩm vải Bắc Giang qua 2 cửa khẩu.

Đồng thời, chúng tôi cũng quan tâm đến thị trường nội địa, năm ngoái đây là thị trường giúp cho Bắc Giang, Hải Dương tiêu thụ hết vải. Tháng 6 tới, chúng tôi sẽ phối hợp với Bắc Giang, Hải Dương, TP HCM để kết nối thị trường, cùng thống nhất kết nối tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đơn vị tham gia phân phối lưu thông vải nội địa.

Ngoài ra, thời gian qua Việt Nam cũng thành công trong việc mở cửa thị trường khó tính như Mỹ, Australia. Các thị trường này đều đã có thông báo hoàn thành quy trình xuất khẩu vải. Thông thường, để hoàn thành một quy trình mất đến 4-5 năm vì rất phức tạp. Ngoài ra, hiện nay Bộ cũng đang làm đề án xuất khẩu sang Pháp với 200 tấn, ngoài ra còn các thị trường khác. Chúng tôi cho rằng đây là thị trường khó tính, cần nhiều sự kết nối giữ người nông dân với thị trường nên chúng ta không vội, trước mắt cần làm tốt khâu chất lượng, các yêu cầu VietGap, Gloabal Gap chúng ta phải nhân rộng thời gian tới, vì không chỉ Mỹ, Úc mà còn là yêu cầu với các thị trường xuất khẩu khác.

Ngoài ra còn khải tính đến khâu quy hoạch để đảm bảo quy trình canh tác theo yêu cầu của đối tác, có như vậy mới cạnh tranh được với các nước khác. Từ đó, tôi tin rằng mặt hàng vải sẽ đảm bảo được khâu tiêu thụ.

Chúng tôi là một xã mới được thành lập năm 2015, đất sản xuất 100% là đất đồi, canh tác chủ yếu là cây cao su và vải thiều. Hiện tại giá mủ cáo su xuống thấp chúng tôi đặt vấn đề hỏi song chúng tôi hỏi về giá vải thiều. Niên vụ 2014 chúng tôi có 108ha vải thiều sản lượng trên 400 tấn song về giá cả không ổn định tự tiêu thu của nhân dân năm 2015 theo khảo sát sản lượng trên 300 tấn rút kinh nghiệp năm 2014 bà can áp dụng kỷ thuật từ Lục Ngạn song hiện tại giá cả rát nhiều luồng thông tin nên bà con lo ngại về giá cả( hiện tại trên địa bàn và các xã lân cận) chưa có tổ chức đơn vị đứng ra bao tiêu sản phẩm, vậy chúng tôi xin hỏi Thứ trưởng có giải pháp để giúp bà con tiêu thụ giá cả ôn định không cho năm 2015 và những năm tiếp theo
chúng tôi xi cảm ơn Bộ trưởng

Nguyễn Đức Phương, 39 tuổi, cán bộ Tư pháp xã Phúc Do

Thứ trưởng Trần Tuấn Anh: Bản thân chính quyền Bắc Giang rất quan tâm khâu tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể, họ đã rà soát, thống kê đánh giá vùng, diện tích canh tác, sản lượng từng năm. Căn cứ trên nhu cầu, quy mô sản lượng vùng, tỉnh đã cùng các Bộ, ngành với địa phương để kết nối nối với doanh nghiệp Trung Quốc cùng bàn bạc, thống nhất các kế hoạch thu mua, nhập khẩu vải qua biên giới.

Bên cạnh đó, để đảm bảo cân đối chung tiêu thụ sản phẩm, tỉnh Bắc Giang đang phối hợp với các địa phương tạo ra khâu kết nối tại các địa phương như TP HCM, các tỉnh phía Bắc…

Có thể nói, cần tính đến giải pháp đảm bảo tổng thể chung, còn cụ thể từng vùng, sản lượng từng vùng, từng địa phương như thế nào, tôi kiến nghị bà con có thể trao đổi trực tiếp với chính quyền địa phương để chủ động phối hợp, đảm bảo khâu tiêu thụ

Nếu điều kiện xuất khẩu thuận lợi, chính quyền có thể giới thiệu các doanh nghiệp trong và ngoài nước ký kết hợp đồng bao tiêu. Ngoài ra, tỉnh Bắc Giang có thể thông qua sở Công Thương tạo ra sự kết nối với các vùng, các siêu thị đến khảo sát và ký kết mua các sản phẩm địa phương.

Chúng ta luôn nói tới các giải pháp xuất khẩu, nhưng xuất khẩu nông sản chỉ là phần nhỏ so với nhu cầu trong nước. Vấn đề của chúng ta là có quá nhiều khâu trung gian, có rất nhiều người sống nhờ trung gian mà không sản xuất gì. Vậy làm thế nào giảm bớt trung gian để đảm bảo lợi nhuận cho nông dân và giá cả hợp lý cho người tiêu dùng?
từ anh quốc, 27 tuổi

Ông Nguyễn Trí Ngọc: 

Về vấn đề này, chúng ta có thể trao đổi cởi mở là trong khâu sản xuất nông sản, đặc biệt là xuất khẩu phải trải qua nhiều khâu, như sản xuất lúa gạo thì vai trò của thương lái rất quan trọng đối với thu gom nông sản. Trong nhiều năm chúng tôi đã chỉ đạo sản xuất nông sản ở miền Tây, năm 2011 Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có tổ chức chương trình phát triển cánh đồng mẫu lón, gắn nông dân nhỏ với cánh đồng lớn. Ở đây muốn nói đến mô hình mới, hộ nông dân liên kết với nhau, đóng góp cánh đồng nhỏ vào tổ hợp lớn hơn để sản xuất gọn, đồng nhất loại giống.

Thứ hai là liên kết nông dân với doanh nghiệp để không những cung ứng đầu vào mà còn bao tiêu đầu ra. Có thể nói từ khi triển khai mô hình này đến nay, nhiều cánh đồng mẫu lớn được triển khai và có kết quả. Nhiều doanh đã triển khai, không chỉ miền Tây mà còn lan ra miền Bắc năm 2012. Gần đây, chúng tôi cũng tiếp tục với các địa phương, ban chỉ đạo Tây Nam Bộ đánh giá để nâng cấp phương thức sản xuất đó.

Tôi cho rằng đây là phương thức nhằm giảm bớt khâu trung gian trong sản xuất cho nông dân. Ngoài ra, còn phương thức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất, thực tế có nhiều rường hợp đã thành công.

Thời gian tới, để khắc phục tình trạng này thì cần triển khai áp dụng các mô hình có kết quả để hiệu quả sản xuất được tăng cường, giá trị nông dân thu được cao và giảm thiểu rủi ro, giảm bớt khâu chi phí trung gian để bớt chi phí cho nông dân.

Từ những thông tin của cơ quan quản lý, đồng thời là người lăn lộn nhiều năm với nông nghiệp Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Trí Ngọc có nhận xét gì về những bất cập của ngành hiện nay?

Trí Anh, 29 tuổi

Ông Nguyễn Trí Ngọc – nguyên Cục trưởng Cục trồng trọt Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Phải khẳng định sau 30 năm đổi mới, ngành nông nghiệp có nhiều đóng góp. Trong năm 2013, 2014, xuất khẩu nông sản đều xuất siêu. Năm 2013 là 8,5 tỷ USD 2014 là 9,5 tỷ USD.

Nhưng hiện tượng dưa hấu, tỏi, hành ùn tắc ở cửa khẩu không chỉ xảy ra năm nay mà từ nhiều năm trước. Nếu không nhận thức đầy đủ, cách làm đồng bộ thì hiện tượng này liệu có chấm dứt?

Tôi thấy tuy có đóng góp đáng kể sau 30 năm đổi mới nhưng rõ ràng ngành nông nghiệp đang bộc lộ yếu kém, nhất là khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu hơn, một trong những hiện tượng đó phải nhìn nhận hết sức khách quan. Có tình trạng mạnh ai người nấy làm trong sản xuất nông nghiệp. Cơ quan quản lý thì đưa ra quy hoạch, chỉ đạo, người nông dân làm chủ trên mảnh ruộng tự quyết sản xuất gì mà họ làm được, đáp ứng được nhu cầu thị trường. Phải nhìn thẳng thắn, khách quan như vậy để có tư duy mới trong tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nếu không, bài toán dưa chuột, tỏi, hành tây còn tiếp diễn.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: 

Vấn đề anh Ngọc đưa ra rất đúng, để sản xuất được hàng hóa không phải vấn đề dễ dàng. Thứ nhất, nông dân vẫn sản xuất theo thói quen là chính, chưa muốn chuyển đổi thói quen của mình. Thứ hai, quy mô diện tích của sản xuất nông nghiệp manh mún, muốn làm cũng khó làm. Muốn sản xuất hàng hóa cũng không đủ diện tích, do đó cũng khó cho người ta khi chuyển đổi.

Cái thứ ba, chưa có sự kết hợp hiệu quả giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến tiêu thụ. Nhà máy phải có nguồn nguyên liệu lớn nhưng nông dân chưa có nguồn sản xuất tương ứng. Với những nguồn nguyên liệu phập phù, người ta không thể nào duy trì một sản lượng hiệu quả với giá thành thấp.

Thứ tư, nông dân phải tự nhìn nhận rằng họ thiếu nhạy bén trong quá trình sản xuất. Chúng ta cứ hôm nay sản xuất gạo A, ngày mai cũng sản xuất gạo A. Đây là những thực trạng mà Bộ Nông nghiệp đang hướng đến để giải quyết và tạo ra nguồn sản xuất hàng hóa để hướng đến sản lượng cao hơn.

Cơ quan quản lý nghĩ gì với thông tin hơn chục thương lái Trung Quốc chi phối thị trường Việt Nam?

Các cơ quan nhà nước có quản lí được các thương lái Trung Quốc thu mua và ép giá nhân dân không. Nếu có thì ta đã quản lí họ như thế nào, hiệu quả ra sao và tương lai cần phải làm những gì để quản lí được hiệu quả hơn?

Thạch Thái Doãn, 40 tuổi

Ông Trần Anh Tuấn: Thông tin này cần đính chính lại, không phải là hơn chục thương lái mà đây là số lượng đầu mối từ phía Trung Quốc. Nhưng việc xuất dưa hấu sang Trung Quốc vẫn là hình thức tiểu ngạch- hình thức tồn tại lâu nay giữa hai bên. Đặc thù của tiểu ngạch là thương lái, doanh nghiệp quan hệ với nhau thông qua việc trao đổi hàng nhận tiền chứ không có hợp đồng. Chính vì vậy, hiện tượng ùn tắc cục bộ là do năng lực thông quan của cơ quan chức năng là hải quan, kiểm duyệt thực vẫn còn hạn chế. Do tập quán tiểu ngạch, khi thông quan đối tác sẽ kiểm tra chất lượng trước không không đạt họ sẽ trả lại, do đó đây là nguyên nhân khiến mất khá nhiều thời gian thông quan.

Hình thức này vẫn tồn tại trong thời gian tới, do vậy, việc tiếp tục các biên pháp nâng cao năng lực hoạt động thương mại biên giới là việc vẫn phải làm.Theo tôi, cần lưu ý mấy điểm sau: Thứ nhất, tiếp tục phói hợp lực lượng chức năng hai bên.

Thứ hai, thay đổi tập tục thương mại tiêu ngạch khuyến khích doanh nghiệp hai bên trong đó có Việt Nam ký kết hợp đồng thương mai để giảm bớt rủi ro.

Thứ tư, Bộ đã xây dựng đề án xây dựng trung tâm chuyên chuyển để bảo quản sản phẩm, tránh thương lái ép giá khi có hiện tượng dội hàng.

Cuối cùng là đối thoại ở kênh Chính phủ cho doanh nghiệp hai bên có hợp tác hiệu quả hơn chứ không trông chờ tiểu ngạch, điểm này, theo tôi hoàn toàn phụ thuộc vào việc sản xuất.

Nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc vẫn là thị trường lớn của xuất khẩu nông sản, thủy sản Việt Nam. Vậy những vấn đề trong xuất khẩu tới thị trường này là gì, định hướng và giải pháp để giải quyết những khó khăn trong xuất khẩu nông sản, thủy sản sang thị trường này?

Trần Bảo, 29 tuổi

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: Trung Quốc đúng là một thị trường lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường gọi là lớn như vậy nhưng vẫn có một đặc điểm đó là tính mùa vụ. Muốn xuất khẩu sang Trung Quốc một cách bền vững thì chúng ta phải tổ chức sản xuất như thế nào để nông sản không trùng với mùa vụ bên Trung Quốc. Ví dụ hiện nay Trung Quốc cũng trồng vải và là loại chín muộn. Do đó chúng ta có thể trồng những loại vải chín sớm trước 10/5, để chiếm lấy thuận lợi vì lúc này thị trường họ chưa có vải. Nhưng trên thực tế hiện nay chúng ta đang mò mẫm, thậm chí làm ngược. Ví dụ nhiều viện nghiên cứu như Viện Nông nghiệp đang tạo ra những loại vải chín muộn, hay nghiên cứu công nghệ chậm chín, làm kéo dài thời gian tiêu thụ trái vải của Việt Nam. Tôi cho rằng điều này không phù hợp. Theo tôi 1/3 diện tích vải của chúng ta cần được dành để trồng loại vải chín sớm. Lịch tiêu thụ không trùng với người ta thì việc tiêu thụ dễ dàng hơn cho người nông dân. Cũng chung ví dụ như vậy, việc thu hoạch dưa hấu cần tránh thời điểm họ cũng đang vào vụ dưa hấu.

Thứ hai, chúng ta cần có công nghệ bảo quản chế biến phù hợp nhưng cần có giá thành rẻ vì Trung Quốc có đặc trưng là thị trường dễ tính và cạnh tranh bằng giá. Những công nghệ chi phí quá cao không cạnh tranh được.

Chúng ta cần có nghiên cứu về phân khúc thị trường phù hợp. Trung Quốc là thị trường tỷ rưỡi dân và không phải ai cũng có nhu cầu tiêu thụ như ai, có những phân khúc còn thấp hơn chúng ta. Do đó không nhất thiết khi nào cũng phải phấn đấu tốt để hướng đến thị trường ở mức cao khi xuất sang Trung Quốc.

Cuối cùng, tôi cũng có lời khuyên là không nên đặt cửa vào một thị trường duy nhất nào. Ví dụ 40%  lượng gạo hiện nay đang được xuất sang Trung Quốc, do đó chỉ một biến động nhỏ ở thị trường cũng mang đến rủi ro cao.

Ông Trần Tuấn Anh: 

Thực tế, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc đạt 4,8 tỷ USD, chiếm 32% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Trong đó, có những mặt hàng quan trọng thị trường Trung Quốc trở thành thị trường cơ bản như gạo chiếm 40%, cao su, sắn lát… Nếu có biến động từ thị trường Trung Quốc thì chắc chắn sẽ tạo ra bất lợi cho tiêu thụ của Việt Nam.

Nhưng tiêu thụ tại Trung Quốc cũng dựa trên lợi thế của Việt Nam bên cạnh quan hệ hợp tác, nên chúng ta phải đảm bảo được năng lực cạnh tranh, như chấtlượng, giá thành, đáp ứng được yêu cầu về quy cách phẩm chất, hàng rào kỹ thuật. Tuy Trung Quốc là thị trường dễ tính nhưng cũng có những yêu cầu riêng về hàng xuất khẩu.

Ngoài ra, trong 4,8 tỷ USD thì xuất khẩu chính ngạch vẫn chiếm đa số, tiểu ngạch chỉ chiếm phần nhỏ, nên phải có cơ chế cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường Trung Quốc và có những kết nối sâu với thị trường nội địa Trung Quốc. Các chương trình kết nối thương mại, xúc tiến thương mại, đàm phán tháo gỡ những rào cản cũng sẽ góp phần phát triển thương mại với Trung Quốc.

Tiếp tới, như đề án thông tin về thị trường, định hướng thị trường cũng như thông tin về điều hành thị trường cũng rất cần thiết, giúp cho doanh nghiệp, ngành hàng vượt qua những rào cản của họ.

Về tiểu ngạch và thương mại của cư dân ở biên giới, một điều quan trọng là vẫn cần có sự kết hợp với nông dân đưa hàng qua biên giới

Tôi đang sinh sống và học tập tại Singapore. Tôi thấy chất lượng nông sản ở đây, chủ yếu nhập khẩu từ Malaysia và các nước lân cận, không hề vượt trội so với nông sản trong nước. Vậy các ông đề xuất phương án nào để tiếp cận thị trường tiềm năng này?

Minh Hoàng, 22 tuổi

Ông Nguyễn Trí Ngọc: Có lẽ cần suy nghĩ khách quan, tôi cũng được học và sống ở Singapore một thời gian. Tôi cũng đi chợ hàng ngày, trong đó có cả việc mua nông sản, tôi c ũng ý thức được tại sao hàng nông sản của mình ở đây ít đến thế. Ở đây có nhiều câu ch uyện. Nhưng có câu chuyện phải thừa nhận, Singapore họ kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu rất kỹ, trong đó có việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Với một số sản phẩm của mình, trong đó cả gạo, rau, hoa quả, làm chưa tốt, chưa đáp ứng được thị trường họ.

Trở lại, tôi vẫn muốn lưu ý điểm cốt tử của nông sản Việt Nam phải là chất lượng và kiểm soát được vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc này phải kiên trì làm, đầu tư cao nhất để khắc phục bằng được điểm yếu cốt tử này. Nếu không, hàng tiêu thụ trong nước cũng có không được chấp nhận, chứ chưa nói xuất khẩu. Nhất là cuối năm nay, các nước trong ASEAN đã trở thành một cộng đồng.

Ông Trần Tuấn Anh: 

Tôi cũng may mắn sang Singapore năm ngoái để tham gia chương trình xúc tiến về gạo, có cơ hội gặp quan chức và doanh nghiệp Singapore. Trong chương trình đó bản thân phía bạn cũng biết đến sản phẩm của Việt Nam, ngoài gạo còn có vải. Sau chuyến đi hồi tháng 9 năm ngoái, 2 hệ thống siêu thị lớn của Singapore đã quan tâm đến nhập vải của Việt Nam và xem xét khả năng nhập khẩu trực tiếp để tiêu thụ vải trong siêu thị của họ.

Tuy nhiên, tôi cho rằng quan trọng là phải đảm bảo chất lượng khâu canh tác, đảm bảo kiểm soát dư lượng thuốc trừ sâu, kiểm soát sâu bệnh… để hàng hóa có chất lượng.

Kinh chào thứ trưởng và các chuyên gia!
Tôi là một người con của mảnh đất Lục Ngạn hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Sắp đến vụ thu hoạch vải thiều năm 2015 – một nông sản chính của bà con nông dân quê tôi. Và qua những gì chứng kiến cũng như có một số vấn đề tôi muốn hỏi và mong các vị khách giải đáp như sau:

1- Vấn đề về thị trường tiêu thụ:
Như những năm trước chủ yếu vải thiều sau khi thu hoạch được bán cho Trung Quốc là chính. Nhiều hộ gia đình trong đó có gia đình tôi dù không muốn bán cho các thương lái Trung Quốc vì so với bán cho thương lái người Việt mua và xuất đi thị trường trong nước như miền Nam…thì thương lái Trung Quốc thường trừ đầu trừ đuôi (những quả thối, quả nhỏ…) nhiều hơn, ép giá khi đã mua đủ hàng…
Tuy nhiên do thương lái Trung Quốc trực tiếp sang tận địa phương tôi, thuê những mặt bằng rộng, thuận tiện nhất, mua với giá cao hơn…nên để bù lại chi phí, thuận tiện bán hàng nhanh chóng nên phần lớn nông dân bán cho Trung Quốc những mặt hàng đẹp, chất lượng trước. Còn những hàng kém hơn mới bán cho thương lái người Việt xuất đi trong nước….
Cho nên vô hình chung, người Việt Nam tại các địa phương khác lại không được sử dụng những quả vải thiều chất lượng nhất, ngon nhất. Từ đó một số người đánh giá “thương hiệu vải thiều Lục Ngạn thực ra cũng không ngon lắm” – Đây là một nhận định sai, và thực tế như tôi quan sát có rất nhiều người ở Hà Nội phải mua vải với giá rất cao mà không đạt chất lượng.
Như vậy có thể thấy là dù thị trường trong nước còn rất lớn nhưng tại sao chúng ta lại không khai thác được mà rất nhiều năm qua nông dân vẫn phải bán cho Trung Quốc và bị ép giá….?

2- Vấn đề về giao thông:

Có thể nói đây cũng là một vấn đề rất quan trọng nhưng tôi chưa thấy ai đề cập đến và trong danh sách các vị khách mời tôi cũng không thấy có vị nào thuộc bộ giao thông…?

Vì sao nó lại quan trọng??

Đơn giản vì vải thiều cũng như các nông sản khác là một mặt hàng tươi, cần bảo quản mẫu mã, chất lượng tốt nhất và chỉ giữ được trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên quốc lộ 31 – Trục đường chính dẫn về huyện Lục Ngạn hiện nay rất nhỏ, trong khi lưu lượng xe lại rất lớn. Và chuyện tắc đường trong mùa thu hoạch vải là chuyện xảy ra hàng ngày, và năm nào cũng xảy ra…Vì là con được độc đạo nên một khi tắc là các xe Container, các phương tiện khác phải nằm chờ hàng giờ, có khi cả ngày để chờ thông đường. Như vậy để vận chuyển được hàng đến cửa khẩu Tân Thanh, hay đến miền Nam thì thời gian vận chuyển đã tăng lên rất nhiều, kéo theo đó là chi phí phát sinh: làm lạnh, bảo quản sản phẩm trên xe…

Từ đó làm giảm sự cạnh tranh của hàng hóa do chi phí phát sinh nhiều, mẫu mã, chất lượng giảm sút!

Vì vậy kính mong các vị khách mời, các đại biểu lưu tâm và cố gắng hỗ trợ cho tỉnh Bắc Giang tôi mở rộng được quốc lộ 31 này!

Xin cảm ơn các vị khách mời!

Trần Văn Thành, 28 tuổi, Lục Ngạn – Bắc Giang

Ông Trần Tuấn Anh: Liên quan đến vấn đề này, cơ quan quản lý nhận định nhu cầu tiêu dùng nội địa còn rất lớn, song có thực tế bị hổng và chưa phát triển tốt trong đó mặt hàng trái cây. Năm ngoái, Bộ đã có những biện pháp quyết liệt hỗ trợ nông dân Bắc Giang, chúng ta chứng kiến sự huy động lực lượng xã hội rất lớn nên sản lượng vải của địa phương đã được tiêu thụ hết với quy mô 40% xuất khẩu, 60% tiêu thụ trong nước.

Năm nay, trong nhiều chương trình, đã có nhiều hội nghị kết nối giữa các địa phương bao gồm vai trò của các công ty thương mại kể hệ thống siêu thị để vải tiếp cận đến với người tiêu thụ trong nước, tôi tin rằng vải thiều Bắc Giang sẽ được tiêu thụ rộng tại nội địa.

Về đề nghị của độc giả liên quan hạ tầng giao thông, trước đó chúng tôi đã có văn bản đề nghị Bộ Giao thông Vận tải chỉ đạo Sở Giao thông các địa phương có biện pháp hỗ trợ lưu thông trái vải kể cả trong nước và xuất khẩu. Sau đó Bộ Giao thông Vận tải cũng đã có văn bản chỉ đạo cụ thể với vấn đề này.

Riêng việc nâng cấp quốc lộ 31 tôi xin nhường lại Bộ Giao thông Vận tải có và cơ quan quản lý liên quan khác có ý kiến sẽ sát sườn hơn.

Ông  Nguyễn Mạnh Dũng: 

Tôi xin bổ sung về vấn đề giao thông. Tôi đã theo dõi trái vải Luc Ngạn hàng chục năm nay. Nếu quan sát con đường 31 từ cách đây 20 năm thì độc giả có thể thấy lúc đó con đường lổn nhổn như thế nào. Do đó con đường như hiện nay là một sự cố gắng rất lớn của Nhà nước. Theo tôi, trong thời gian tới việc đầu tư như thế nào còn phải căn cứ vào tình hình xã hội của cả nước nói chung.

Ông Trần Tuấn Anh.

Là người lăn lộn nhiều năm với ngành nông nghiệp, Tiến sĩ Ngọc có thể cho biết thêm ý kiến về những khó khăn cũng như giải pháp để thúc đẩy quy hoạch ngành, cũng như đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tiêu thụ nông sản?

Thành Nam

Ông Nguyễn Trí Ngọc: Hàm lượng chất xám tham gia vào các mặt hàng nông sản Việt Nam nói chung mới đạt 40%. Đánh giá này của các cơ quan nghiên cứu tôi cho là có cơ sở. Hàm lượng thế là thấp so với yêu cầu và tiềm năng. Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng thời gian tới để nâng cao chất lượng là giải pháp khoa học công nghệ. Trước hết là giải pháp về giống, nếu làm tốt, chúng ta sẽ có bước đột phá mới để nâng cao chất lượng, để tham gia thị trường thế giới cũng như nội địa.

Sản xuất nông nghiệp nhiều năm qua đã xây dựng triển khai nhiều quy hoạch trên lĩnh vực trồng trọt, nông nghiệp, chăn nuôi…, tất cả đều có cả và có nhiều sự điều chỉnh của các quy hoạch đó. Tuy nhiên, trên thực tế, thực hiện sản xuất theo quy hoạch vẫn là yếu kém, đây là tồn tại từ xưa đến nay. Quy hoạch thì có nhưng tổ chức chỉ đạo và thực hiện sản xuất chưa bám sát quy hoạch, chưa thực hiện đầy đủ theo yêu cầu đề ra. Chất lượng quy hoạch và những chế tài thực hiện quy hoạch đó còn kém. Về chất lượng, có cái cứ phải điều chỉnh đi lại, thực tế lại không diễn ra như quy hoạch. Về chế tài, việcđảm bảo hàng hóa đáp ứng thị trường cả về số và chất lượng thì câu chuyện này làm chưa tốt.

Theo quan điểm cá nhân tôi, cốt lõi trong việc tiêu thụ nông sản là vấn đề niềm tin. Thực tế người dân đã bất đắc dĩ phải trở thành những người “sính ngoại” cũng là do khủng hoảng niềm tin. Một khi nông sản,hàng hóa chưa truy suất được nguồn gốc thì niềm tin của người dân chưa thể cải thiện. Nếu đảm bảo được chất lượng từ sản xuất, đến lưu thông thì tôi tin rằng không những xuất khẩu sẽ tăng mạnh mà thị trường 90 triệu dân trong nước sẽ được khơi thông. Tôi đề xuất nên xã hội hóa công tác đảm bảo chất lượng nông sản và quản lý thị trường. Với góc độ quản lý, ý kiến các ông như thế nào về vấn đề này?

Luu Ngọc Lương, 32 tuổi

Ông Nguyễn Trí Ngọc: Chúng ta đã nói trong buổi ngày hôm nay, điểm cốt tử trong phát triển nền nông nghiệp hàng hoá là chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Chúng ta làm chưa tốt khâu này nên bị mất niềm tin trong việc sử dụng, đặc biệt là mặt hàng rau quả. Việc truy xuất nguồn gốc chưa được thẩm định nên xảy ra tình trạng đáng tiếc như ngộ độc. Điều này đòi hỏi nỗ lực của cả hệ thống. Tôi cho rằng sản xuất theo chuỗi giá trị mới giúp truy xuất được nguồn gốc và đảm bảo niềm tin của người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Trí Ngọc.

Tại nhiều diễn đàn trước đây, lãnh đạo cơ quan quản lý cho biết một trong những nguyên nhân của hiện tượng ùn ứ nông sản, được mùa mất giá của nông dân là do công tác thông tin kết nối từ sản xuất tới tiêu dùng chưa thông suốt, hiệu quả. Ông có thể giải thích rõ hơn về tình trạng này? Các Bộ, ngành đã và sẽ thực hiện những giải pháp gì để khắc phục những hạn chế nêu trên trong công tác thông tin?

Nguyễn Thanh Tú

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: Về vấn đề kết nối thông tin, tôi cho rằng chúng ta đã làm và làm khá nhiều. Ví dụ hầu hết các loại cây chủ lực của Việt Nam đều được ban hành về quy hoạch sản xuất và các quy hoạch đó đều luôn được gắn với yếu tố thị trường. Việc đứt đoạn thông tin nói trên, theo tôi có mấy vấn đề như sau.

Quy hoạch gắn với thị trường thường bị đứt ở khâu cán bộ địa phương như Sở Nông nghiệp, UBND xã huyện không có kết nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước với người sản xuất. Do đó các phòng ban trên Bộ hướng dẫn nhiều nhưng cũng khó đến được với người dân.

Thứ hai, bản thân người dân có thói quen sản xuất theo tập quán chưa chú trọng tín hiệu thị trường, chưa để tâm tín hiệu thông tin mà cơ quan quản lý Nhà nước cung cấp. Để khắc phục, chúng tôi đều có những tổ chức đưa thông tin đến nông dân thông qua các hoạt động kết nối như khuyến nông, tổ chức hội nghị khách hàng, Từ năm 2012 Cục chế biến đều tổ chức trên 10 hội nghị khách hàng mỗi năm nhằm đưa thông tin thị trường đến người sản xuất. Ngoài ra, chúng tôi đưa thông tin lên trang web, cộng với các phương tiện thông tin đại chúng như VTV, VOV hay với VnExpress hôm nay để đưa thông tin đến càng nhiều nông dân càng tốt.

Có một thông tin quý vị có thể tham khảo như chúng tôi đang xuất bản bản tin nông nghiệp mỗi tuần một số nếu quý vị có nhu cầu thông tin có thể truy cập vào website hoặc số điện thoại của chúng tôi.

Tôi cho rằng ở đây thông tin hai bên vẫn không gặp nhau ở chỗ cơ quan quản lý Nhà nước không thể phủ sóng ở khắp mọi nơi và người sản xuất chưa đủ nhạy bén để thu thập những thông tin đó.

Bộ Nông nghiệp sản xuất vẫn đang sản xuất theo tín hiệu thị trường, xuất khẩu theo định hướng của Bộ Công thương và sự điều phối, điều hành của Chính phủ. Chẳng hạn chúng tôi muốn quy hoạch chế biến gỗ đều phải có liên hệ chặt chẽ với Cục Xuất khẩu Bộ Công Thương để nắm bắt tín hiệu thị trường. Bộ Nông nghiệp và Bộ Công Thương đều có liên kết chặt chẽ ko tách biệt. Năm ngoái hai Bộ trưởng ký thỏa thuận hợp chặt chẽ trong lĩnh vực nông sản nhằm hỗ trợ cao nhất cho người nông dân.

Ông Trần Tuấn Anh: 

Trên thực tế, các bộ ngành đều hiểu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình và chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ. Thông tin là khâu cơ bản trong việc thực hiện chính sách, tiếp thu ý kiến thị trường. Thời gian qua, khi có thông tin về đứt đoạn thông tin thì có vấn đề trong thông tin nghiên cứu thị trường để phục vụ xuât dựng quy hoạch. Đây không chỉ ảnh hưởng đến xây dựng mà còn là dự báo phát triển quy hoạch. Quy hoạch phải dựa trên năng lực và lợi thế so sánh của chúng ta, có sự phối hợp chặt chẽ giữa trong với ngoài nước, giữa các bộ ngành, địa phương để xây dựng quy hoạch cho tốt. Tôi cho rằng chúng ta phải xây dựng trung tâm dữ liệu vừa để xây dựng chính sách vừa để diều hành.

Thứ hai là phải xác định loại đối tượng, từng loại thông tin cần thiết để cung cấp, như thông tin dành cho điều hành, xúc tiến thương mại, cho ngành hàng, nông dân sẽ khác. Do đó, phải có sự kết nối trong việc xác định và cung cấp thông tin cho hiệu quả.

Cuối cùng, quan trọng nhất là phải tính một cơ chế sao cho có vai trò của doanh nghiệp, vừa là người khai thác, vừa là người đặt hàng thông tin. Khâu thông tin sẽ có chốt như vậy trong phát triển ngành nông sản của chúng ta.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng

Xin Thứ Trưởng vui lòng cho biết kế hoạch về số lượng thu mua tạm trữ và xuất khẩu gạo để hỗ trợ đầu ra cho nông dân và doanh nghiệp và các giải pháp then chốt để thực hiện kế hoạch này trong 7 tháng còn lại của năm 2015?

Trần Sơn, TP.HCM

Ông Trần Tuấn Anh: Về công tác thu mua tạm trữ gạo:

Bộ Nông nghiệp được Chính phủ giao là đầu mối xây dựng thực hiện. Công tác thu mua tạm trữ là biện pháp triển khai để đảm bảo hỗ trợ cho người nông dân tác động thông qua cơ chế giá để giữ giá không bị xuống khi vào vụ thu hoạch mà công tác thu hoạch chưa hiệu quả. Khi đó sẽ có thu mua với cơ chế hỗ trợ lãi suất để giúp mùa vụ thu hoạch được tạm trữ, giữ giá không xuống t hấp

Cụ thể, điều kiện, quy mô cũng như thời điểm đều đã quyết định cụ thể. Khi giá của Thị trường xuống thấp hơn giá thành, xuống hơn giá quy định của Bộ Tài chính (giá định hướng), Chính phủ sẽ quyết định giao Bộ Nông nghiệp tổ chức triển khai còn quy mô sẽ căn cứ vào tình hình thực tế

Năm 2015, 4 tháng đầu năm xuất khẩu gạo có khó khăn, thấp hơn năm ngoái giảm 6,1%. Phần còn lại năm nay, nhiệm vụ rất lớn trong tiêu thụ gạo đảm bảo lợi ích cho người nông dân cũng như cân đối cung cầu, an ninh lương thực, lợi ích của doanh nghiệp.

Một loạt biện pháp chúng tôi đã triển khai như tiếp tục phát triển tìm hiểu tại các thị trường tiềm năng, thị trường mới nổi, thị trường truyền thống, đặc biệt Trung Quốc (vẫn còn có vai trò rất quan trọng vì là nước láng giềng, nhu cầu tương đối lớn. Nhấn mạnh là chúng ta vẫn tiếp tục nỗ lực thúc đẩy gạo, trong đó có thị trường Trung Quốc.

2 quý cuối 2015 sẽ tập trung 1 số chương trình cụ thể để hỗ trợ cũng như qua các kênh của Chính phủ để hỗ trợ cho người nông dân. Chúng tôi tin rằng năm 2015 sẽ đạt mục tiêu, không chỉ xuất khẩu lúa gạo mà cả nông sản đều tốt.

Thứ trưởng nghĩ sao về việc chúng ta sẽ lập website hiển thị dữ liệu nông sản cả nước, cây gì đã trồng, sản lượng bao nhiêu và lượng cầu cần khoảng bao nhiêu. Thông tin này sẽ được cán bộ tại từng địa phương thu thập và nhập vào website để người nông dân có thể tham khảo, từ đó người nông dân biết được cây gì đã có đủ cung và tránh được điệp khúc cung vượt cầu?

Phan Nguyễn, 35 tuổi, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

Ông Trần Tuấn Anh: Tôi nghĩ đây là ý tưởng hay nhưng để khả thi cần thiết cơ quan quản lý sẽ bàn thêm, song theo tôi ngoài cơ quan quản lý cần có vai trò của đơn vị xúc tiến thương mại và hội ngành hàng tham gia. Hiện tại Bộ và các cơ quan quản lý đều có bộ phận dữ liệu thông tin, nhưng hướng vào việc phục vụ cho từng đối tượng cục thể thì cần có đề án, và cần sự tham gia của doanh nghiệp. Theo tôi trong nhiều yếu tố doanh nghiệp chính động lực tốt nhất để thúc đẩy việc tiếp cận mọi thông tin đến thị trường.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng: 

Tôi xin bổ sung, cách đây 5 6 năm Bộ Nông nghiệp cũng đã có đề án như thế này và sử dụng kinh phí từ nước ngoài. Cái này Nhà nước không thể cáng đáng được vì chi phí quá cao, tổng hợp thông tin từng tuần rất khó khăn. Tuy nhiên nếu độc giả quan tâm vấn đề thông tin nông sản, tôi có một đề xuất thế này. Hiện nay nhiều hiệp hội có được hệ thống thông tin rất hiệu quả, ví dụ như VASEP có bản tin cập nhật từng tuần. Nếu những ai thật sự quan tâm thì có thể đăng ký tham gia làm hội viên của các hội để có thông tin tốt nhất.

vnexpress source

Mọi thông tin hoặc ý kiến đóng góp cũng như thắc mắc liên quan đến Tin Tức, Thị Trường, Thương Hiệu, Doanh Nghiệp … xin gửi về địa chỉ email: info@saigontiepthi.vn; Đường dây nóng: 01 247.000.247.

dang-ky-giay-phep-website

Thành Lập Công Ty

Bạn nên đọc

Xem xét khen thưởng “Người đàn ông tật nguyền quái gở”  

Khi lên Bình Dương và xuống Rạch Giá (Kiên Giang) bán vé số, người đàn …

%d bloggers like this: